MƯA TRONG ĐÊM

By nguyễn hải triều

MƯA TRONG ĐÊM

                           Nguyễn Hải Triều                                   

 Sợi mây giăng ngang

Mưa mắc nghìn nốt nhạc

Âm thanh thành những giọt đàn

Trong đêm

                  âm vang…

 

Dòng đời trôi xuôi

Người mắc từng kỷ niệm

Hạnh phúc niềm đau tóc xanh tóc trắng

Dĩ vảng hồi cư

Ngọt ngào cay đắng

Nhói buốt lòng

                        miên man…

 

Mưa vẫn rơi trong đêm

Tí tách muôn tiếng nhạc

Phía bên kia

Trôi xuôi thân cò cánh vạc

Thấm thía giọt đời

Buông vào khỏang trống

                                       lặng rơi…

 

 

 

More...

NỮ SĨ TÀI HOA

By nguyễn hải triều

Bài viết của Nguyễn hải Triều

 

BÀ BANG NHÃN - NỮ SĨ TÀI HOA

 

Có một câu chuyện xảy ra từ rất lâu. Tại làng Phụng Trì ( nay là thôn Lam Phụng xã Đại Đồng huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam). Câu chuyện kể về một người phụ nữ goá chồng sinh đến năm người con nhưng còn nhan sắc và đặc biệt rất tài hoa văn hay ứng đối giỏi.

Một hôm có người đàn ông tên Bốn Kế một nho sinh cũng thuộc hạng học rộng biết nhiều từ Điện Bàn lên Đại Lộc “ tầm sư học đạo”. Nghe tiếng người phụ nữ giỏi giang bèn tìm đến để thử tài. Họ gặp nhau trong một đêm hát hò khoan sau vài câu hát chào xã giao thăm dò đối thủ Bốn Kế bèn ứng khẩu:

Trên sơn dười thuỷ em bậu giữ kỹ làm gì

Tiền thân hậu phúc kiếm chút ấu nhi mà bồng?

Người phụ nữ kia không cần suy nghĩ đáp lại ngay:

Trên sơn dưới thuỷ đây ta có giữ kỹ cũng ra đám đất bằng

Ngày sau bạn có chết thì lập cái lăng mà thờ!

Người đàn bà đối đáp trí tuệ đó có tên thường gọi là Bà Bang Nhãn một văn sĩ của đất Đại Lộc vào những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20.

Bà Bang Nhãn tên thật là Lê Thị Liễu sinh năm Quý Sửu (1853) tại làng Phụng Trì. Chồng bà ông Phan Hữu Quỳ làm chức Bang Tá quê làng Gia Cốc Đại Minh. Vì có con đầu lòng tên là Nhãn nên người ta thường gọi bà là Bà Bang Nhãn.

Thuở sinh thời bà tỏ ra là người có tư chất thông minh khác thường. Được dạy dỗ chu đáo. Lớn lên đi lấy chồng được làm dâu trong gia đình khoa cử. Môi trường ấy đã tạo cho bà thành một phụ nữ thông thạo tri thức Nho học có phong cách hào hoa và quan hệ rộng rãi thường xuyên gặp gỡ giao lưu thơ văn với tầng lớp tú cử nho sinh trong vùng. Bà rất yêu thơ Đường mê Kiều và hát bội. Bà cũng nổi tiếng về tài nội trợ nấu ăn làm bánh chăm sóc chồng con. Nói chung là một phụ nữ công dung ngôn hạnh tài đức vẹn toàn. Chồng mất sớm lúc bà mới ba mươi tư tuổi. Bà một mình nuôi nấng dạy dỗ năm người con khôn lớn. Sống đức độ thuỷ chung bà luôn được mọi người quý mến nể trọng.

Cuộc đời Bà Bang Nhãn đã chứng kiến nhiều biến cố lịch sử quan trọng của xã hội: Năm 1858 lúc bà năm tuổi giặc Pháp tấn công Đà Nẵng mở đầu cuộc xâm lược thực dân trên đất nước ta. Năm 1883 khi bà ba mươi tuổi thì Nguyễn Duy Hiệu hưởng ứng phong trào Cần Vương lập Nghĩa Hội Quảng Nam xây dựng căn cứ ở Trung Lộc ( Quế Sơn) và 9 xã Sông Con lấy Đồng Hà Sống ( Đại Lộc) làm tiền đồn án ngữ để kháng chiến chống Pháp. Năm 1908 ở tuổi năm mươi bà lại được chứng kiến một sự kiện lịch sử nay tại nơi bà sống là cuộc chống sưu thuế nổ ra tại Đại Lộc và lan đi cả tỉnh cả nước. Cuộc đấu tranh ấy bị giặc Pháp và triều đình Huế đàn áp đẫm máu.

Là người phụ nữ có tri thức có tài năng; đã sống và chứng kiến cảnh nước mất nhà tan lòng người ly tán. Bà Bang Nhãn có tham gia tích cực các phong trào đấu tranh yêu nước đầu thế kỷ 20. Bà vừa là cô giáo vừa là người cổ động nhiệt tình cho phụ nữ đi học trong phong trào Duy Tân. Là người vận động tài chính đắc lực cho phong trào Đông du. Là một trong những sáng lập viên Hội Hiệp thương nông lâm sản Hội An.

Tâm trạng bà bấy giờ thể hiện rõ trong thơ văn một nỗi thương cảm quê hương căm thù uất hận khôn cùng lũ giặc ngoại bang đang dày xéo trên tổ quốc bà và mỉa mai khinh thường bọn quan lại bù nhìn dốt nát chỉ biết làm tay sai cho kẻ thù phản bội lại dân tộc dựa thế thực dân Pháp ra sức vơ vét bóc lột đàn áp nhân dân. Đối với bọn này dưới mắt Bà Bang Nhãn chỉ là một lũ sâu mọt bất tài vô dụng. Xin được trích dẫn dưới đây những giai thoại về bà khi gặp tri huyện Hồ Thiều và chánh tổng Đức Hoà:

 

Hồ Thiều là người Huế vào làm tri huyện Đại Lộc. Biết Bà Bang Nhãn làm thơ một hôm cưỡi ngựa đến nhà ra đề thơ cho bà với phong cách cao ngạo xem thường phụ nữ:

Mâm thau nhịp mâm nan cũng nhịp

Phượng hoàng đua bìm bịp cũng đua!

Bà đáp làm lại ngay:

Đua nhịp răng ai cũng rứa thê

Mâm nan bìm bịp nguỵ chưa tề?

Chuốt trau lông cánh lên ngàn nhẫn

Chung chạ thanh âm đủ tám nghề

Sen lúc rả bằng xơ xác cũng

Bèo khi gặp nước đững đừng chê

Leo thang chớ vội chê cười cóc

Cung nguyệt cao xa cũng hẹn về!

 

Bài thơ đã dùng ngôn ngữ của địa phương ( rứa ngụy tề…) và dùng hai chữ cuối của hai câu ra đề để mở đầu bài thơ nội dung lại xem thường chức vị học vấn của tri huyện Hồ Thiều. Nghe bài thơ ông ta vô cùng bái phục>

Còn chánh tổng Đức Hoà nhà giàu có nhưng chữ nghĩa thì không bao nhiêu cũng bày đặt xướng hoạ văn thơ vỗ ngực ta đây là người hay chữ lại thêm có tính thường ưa tới lui nhà các nhà bà goá còn nhan sắc. Khi đến gặp Bà Bang Nhãn tặng ngay một bài thơ ứng khẩu:

 

Chánh tổng Đức Hoà cất cớ thôi

Văn chương chữ nghĩa hỏi gì tôi

Năm vần tiện thiếp ra tay hoạ

Sợ nỗi anh hùng mút bút ngồi!

 

Những câu thơ như một cái tát vào mặt. Chánh tổng Đức Hoà chẳng dám ngồi lâu.

 

           Trong Hợp tuyển Văn học Việt Nam 1920 – 1945 tập V quyển 1 Nhà Xuất bản Văn học – Hà Nội năm 1997 có nói đến Bà Bang Nhãn và đã trích tuyển hai bài thơ Đường của bà:

 

QUA ĐÀ NẴNG CẢM TÁC:

 

Rầm rầm ngựa hí với xe qua

“Nhượng địa” là đây có phải a?

Liếc mắt nhìn xem phong cảnh lạ

Ôm lòng chạnh tưởng nước non nhà.

Nào tay hồ thỉ đi đâu vắng

Nỡ để giang sơn cực lắm mà

Nghĩ đến người xưa thương đất cũ

Căm gan riêng giận bác trời già!

 

VỊNH NÚI NGŨ HÀNH

 

Cảnh trí nào hơn cảnh trí nầy

Bồng lai thôi cũng hẳn là đây

Núi chen sắc đá màu phơi gấm

Chùa nức hơi hương khói lộn mây

Ngư phủ gác cần ngơ mặt nước

Tiều phu chống búa dựa lưng cây

Nhìn xem phong cảnh ưa lòng khách

Khen bấy thợ trời khéo đắp xây!

 

Thơ bà Bang Nhãn ảnh hưởng khá sâu sắc thơ của bà Huyện Thanh Quan dù hai người ở hai thế hệ khác nhau. Có lẽ do sự đồng cảm nhất định của trái tim người phụ nữ hoài niệm về quá khứ huy hoàng của một thời vàng son: Bà Huyện Thanh Quan nhớ về một vương triều Lê hưng thịnh khi đang phải sống với một vương triều khác; còn Bà Bang Nhãn thì nhớ lại một thời lịch sử của dân tộc được độc lập tự chủ trong khi phải nhìn quê hương đang là “nhượng địa” của thực dân Pháp:

…Liếc mắt nhìn xem phong cảnh lạ

Ôm lòng chạnh tưởng nước non nhà!

Hoặc:

…Ngư phủ gác cần ngơ mặt nước

Tiều phu chống búa dựa lưng cây…

Những câu thơ của bà đã thể hiện tinh thần yêu nước yêu dân vô bờ bến.

Ngoài những bài thơ và giai thoại về thơ của bà đã sưu tầm được nhân dân vùng Đại Minh Đại Đồng (Đại Lộc) còn lưu truyền nhiều câu hò khoan câu đối của bà.

Bà Bang Nhãn mất năm 1927 thọ được 74 tuổi. Với tài năng đức độ và tinh thần yêu nước thể hiện trong thơ văn đã sưu tầm được bà rất xứng đáng để thế hệ hôm nay và mai sau kính trọng. Bà là một nữ sĩ tài hoa của quê hương Quảng Nam.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

More...

ĐÊM TAM KỲ

By nguyễn hải triều

                         PreviewĐÊM TAM KỲ

                         Nguyễn Hải Triều

Lặng lẽ Tam Kỳ tôi với cỏ

Sương lang thang mơ hồ chân trời

Trăng mắc cạn nơi bờ núi

Quán xá xênh xang tôi mắc cạn nụ cười

 

Con đường im lìm ngã bốn

Phố phường hồn nhiên đêm hoang sơ

Bến bãi lòng tôi nỗi buồn neo đậu

Chút hạnh phúc cô đơn và đợi chờ

 

Một tôi Tam Kỳ và mây

Bềnh bồng tóc bay lưng người gió níu

Bước chân lạ gót mòn vương víu

Thoảng hương lan nhà ai bâng khuâng

 

Thèm chút lặng yên cổ tích

Để có lần em hát với mênh mông

Biển cũng lạ. Vô tư là sóng !

Tôi hóa ngây ngô như đứa hài đồng

 

Lặng lẽ Tam Kỳ và gió

Mắt dõi xa xăm em phía cuối trời

Thức cùng chiêm bao đôi bàn tay ấm

Một mình tôi câu hát cũ... thưa người ! 

 

 

 

More...

THƠ NGUYỄN ĐỨC DŨNG

By nguyễn hải triều

BÓNG MẸ

                                         Nguyễn Đức Dũng

 

Thuở nằm nôi gập ghềnh câu mẹ hát
chiu chít mít non
đỏ mắt cá chuồn
từng chân ruộng quen mặt người úng hạn
cây lúa thương quê nghèo
cây lúa nhịn khoe hương

Đám trẻ bù lem lớn bên trời khoai sắn
hồn phách cha ông lẩn khuất đất đai này
trong giọng nói đã ngọn nguồn sướng khổ
mà tim người máu đỏ để …xanh cây

Này tôi ạ ! chừ tôi bề bộn Quảng
sương nắng lên men chưng nước mắt
Hồng Đào .
dấu chân mẹ nhắc bao điều gần gụi
sao lại còn vọng tưởng
                                   kiếm
                                           tìm…
đâu.

Mẹ đã hoá vào hình sông thế núi
mẹ đã thành câu hát quấn tao nôi
lòng xe hương
thắp lửa cùng quê kiểng
thơm tràn đây
                      trong râm mát
ngậm ngùi .

                                                  N.Đ.D.

More...

TÚ QUỲ - DANH SĨ QUẢNG NAM

By nguyễn hải triều

TÚ QUỲ - DANH SĨ QUẢNG NAM

                                                                                                                             Nguyễn Hải Triều

 

Tú Quý tên thật Huỳnh Quỳ. Ông sinh ngày 26 tháng 6 năm 1828 (tức 15 tháng 5 năm Mậu Tý) niên hiệu Minh Mệnh thứ 9 tại làng Giảng Hoà tổng Quảng Hoà huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam. Sau này làng Giảng Hoà được sáp nhập vào xã Đại Thắng huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam.

Ngày đi học Huỳnh Quỳ thọ giáo cụ tú Trần Thế Thận ở Phi Phú Gò Nổi Điện Bàn.

Lớn lên mặc dù lận đận chốn trường thi nhưng Tú Quỳ không oán hận. Sau hai lần lều chỏng hai lần ông chỉ đỗ Tú Tài. Tú Quỳ trở lại quê hương vui với việc dạy trẻ sống cuộc đời như ông cha chú ngày trước.

Nếu ở Nam bộ Đồ Chiểu đã dùng ngòi bút của mình với chí hướng:

“Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm

Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà!”

Ở Quảng Nam Tú Quỳ cũng không ngoài chí hướng ấy. Ông đã dùng tài văn chương của mình ngoài việc giúp đỡ hàng xóm trong những dịp quan hôn tang chế…Ông thẳng thừng đã kích những thói hư tật xấu của xã hội của bọn quan lại cường hào không chút khoan nhượng e dè  nhằm mục đích thực hiện hoài bão “Diệt bất công gian ác khuyến thiện hưng đạo đức” một cách chính trực ngoan cường.

Hành động và ngôn ngữ của ông phản ánh một nhân sinh quan cá biệt không giống một danh sĩ nào cùng thời đó cũng là phong cách tạo cho ông có được một bản chất đặc thù: Bản chất Tú Quỳ Quảng Nam.

Sinh ra trong một gia đình tổ tiên là người có công khai phá sáng lập ra vùng đất Giảng Hoà. Được sắc vua phong: “Bổn thôn tiền hiền khai khẩn” công nhận tộc Huỳnh là người tiền hiền khai canh vùng đất Giảng Hoà.

Gia đình Tú Quỳ ba đời làm khoa bảng: Ông nội cha chú và đến ông đều đỗ tú tài. Nền nếp nho phong là mực thước trong cung cách sống của ông.

Cũng như lớp sĩ phu thời bấy giờ Tú Quỳ mang trong lòng nỗi đau mất nước lòng uất hận đối với bọn vua quan bù nhìn cường  hào ác bá bán nước cầu vinh. Ông tôn trọng kính phục những người khởi nghĩa xả thân vì nước cụ thể là phong trào Nghĩa hội Quảng Nam. Tuy vậy ông có điều khác họ là rất mực thương yêu nông dân nghèo và chân thành đứng về phía họ. Tú Quỳ đồng cảm với nhân dân về hai nỗi khổ: Nỗi khổ mất nước dưới ách thống trị bạo tàn của thực dân phong kiến và cả nỗi khổ bởi những hành động cực đoan tiêu cực không kém phần khắc nghiệt của những phần tử thoái hoá biến chất lạm dụng quyền lực và uy tín của phong trào Nghĩa hội để hà hiếp nhân dân. Từ đó ông sẵn sàng dùng ngòi bút của mình để đả kích bọn vua quan và cả việc vạch mặt những hành động sai trái hống hách sách nhiễu nhân dân của một số người trong Nghĩa hội một cách cương quyết không e dè khiếp sợ. Hành động của Tú Quỳ trong thời điểm ấy xét về mặt quan điểm lịch sử và quan điểm văn học ông chứng tỏ mình là người có tư tưởng tiến bộ mang tính nhân văn rõ rệt. Tự nó có giá trị phản ánh bản chất “uy vũ bất năng khuất” của một con người giàu lòng nhân nghĩa.

Và lịch sử đời ông đã chứng minh điều đó: Ông luôn bị vây quanh bằng những tai hoạ khủng khiếp có lúc tưởng như phải trả giá bằng cả sinh mạng của mình: Do những sáng tác đả kích các phần tử tiêu cực trong phong trào Nghĩa hội ông bị bọn họ vu khống cho là phản tặc và bắt ông giải lên Trung Lộc – nơi phong trào Nghĩa hội đặt làm căn cứ để xử tử. Nhưng với người thủ lĩnh đầy tài đức mực thước thông minh và sáng suốt như Nguyễn Duy Hiệu. Cụ Hường đã thấy được ở Tú Quỳ là một nhân tài. Những sáng tác của ông tuy nghịch nhĩ nhưng trung ngôn cụ quyết định huỷ lệnh tử hình và tha bỗng Tú Quỳ vô điều kiện và mời ông tham gia phong trào. Tuy vậy vì lý do hoàn cảnh gia đình ông phải từ chối. Từ đó đến cuối đời với cách nhìn cuộc sống nhân hậu và bằng tài năng của mình nhà nho yêu nước Tú Quỳ đã để lại cho đời sau những sáng tác văn học vô giá.

Đối với sự nghiệp thơ văn các sáng tác có giá trị nhất của ông là những tác phẩm mang tính hiện thực trào phúng. Người đọc cảm nhận được chất độc đáo trong văn phong văn khí của ông. Nó có khả năng thẩm thấu qua tâm hồn người đọc người nghe và thuyết phục được họ không những vì nghệ thuật ngòi bút mà còn vì tính chân tình của con người có lương tri giàu nhân ái không lẫn lộn với bất cứ một sáng tác của văn nhân nào khác. Cho đến bây giờ qua truyền miệng trong dân gian các giai thoại có sưu tra và cả qua những lời kể lại của con cháu ông các nhà nghiên cứu đã sưu tập hàng trăm tác phẩm với các thể loại: văn thơ đối liễn…mang nội dung phong phú đa dạng đặc sắc.

Là người sống trong thời loạn lạc chịu ảnh hưởng nặng nền Nho học và cả cuộc giao tranh tư tưởng Đông – Tây. Vì vậy theo sự đánh giá phân định của các nhà nghiên cứu về Tú Quỳ văn thơ của ông phản ánh nhiều khuynh hướng khác nhau:

Được sinh ra và trưởng thành trên một vùng quê bên sông Thu Bồn thơ mộng. Được giao thiệp với nhiều bè bạn thơ văn khắp nơi đã tạo cho Tú Quỳ vốn sống phong phú một nguồn thi hứng về những kỷ niệm những tâm trạng với quê hương với thiên nhiên. Đây cũng là khuynh hướng đầu tiên của ông để sáng tác. Bút pháp tả cảnh ông thể hiện rất nhất quán không hề lặp ý trùng từ; đặc biệt ông luôn luôn khai thác vốn thổ ngữ địa phương như một nhà “ngôn ngữ học” có tài bằng các tác phẩm nổi nét như: Vịnh Côn Sơn Gành Móm thư gởi chồng đi vong Vịnh nước lụt Mưa giông Tháp Hời…Ngoài tài năng tả cảnh thơ ông cũng đã giải bày được nỗi lòng của mình trước cuộc sống trước cảnh nước mất nhà tan:

Nông nỗi làm chi đất nước nầy

Chợ Hời còn đó tháp còn đây

Dấu xưa bia tạc sương sa lấp

Cảnh cũ đền cao nước lộn mây

Chiến tích ngàn năm vang vọng mãi

Kỳ công vạn thuở dễ ai hay

Đau lòng hỏi khách thương cung điện

Rằng mấy tang thương cuộc đổi thay!

                                              (Vịnh Tháp Hời)

Có được tình yêu quê hương dào dạt Tú Quỳ càng cảm thông sâu sắc với tầng lớp nhân dân lao động những người suốt cuộc đời cày sâu cuốc bẩm và phải chịu sự áp bức bóc lột của nhiều lớp thống trị Khuynh hướng thơ văn của ông cũng thể hiện tình cảm yêu thương dân nghèo và đứng về phía họ để bênh vực đấu tranh bảo vệ họ; lên án sự bất công cường quyền. Những bài văn  tiêu biểu như: Văn tế thợ rèn Văn tế ông chài lưới Văn tế hát bội …Mỗi câu chữ ý tứ giàu chất thơ giàu thực tế sinh động hàm súc miêu tả được cuộc đời hàn khó của người nghèo.

“Nón cời tơi rách chịu nắng mưa

Mặt nước dòng sông nuôi con vợ…”

                                           (Văn tế thợ rèn)

Hoặc:

“Lời sắt đinh căn dặn cõi trăm năm

Kiếp tro bụi phanh phui người một lối…”

Và:

“Thảm thiết bấy mấy lời tiện tặn chịu ăn hoài dao luộc hơn chín mười năm

Não nùng thay chút phận rủi ro như tâm mất lưỡi cày cực trăm ngàn nỗi…”

                                                                                     (Văn tế thợ rèn)

Tú Quỳ có cái nhìn thoáng đãng của một thi nhân lại là người có tư tưởng tiến bộ ông không tin vào thần linh vào những điều mầu nhiệm do người “khuất mặt” sắp đặt. Một số tác phẩm của ông cũng đả kích thẳng thừng vào tệ mê tín dị đoan bằng những lời lẽ đúng đắn khoa học với giọng văn giàu chất trào phúng tạo nên nụ cười sảng khoái cho người nghe người đọc. Đôi lúc châm biếm một cách thâm thuý bằng ngòi bút thiên tài. Các tác phẩm: Văn tế phù thuỷ Phú ông Mốc Cây đa thần…hoặc các giai thoại về việc ông cúng miễu Bà cho vợ khỏi bệnh…đã thể hiện rõ khuynh hướng bài trừ mê tín dị đoan không tin vào điều nhảm nhí:

“Ông thần thần làng

Tú tài tú tài nhà nước

Quyền tước ngang nhau

Vợ Quỳ đau nên Quỳ phải dái (vái)…”

Đối với bọn cường hào ác bá bọn quan lại bù nhìn sẵn sàng tuyên chiến. Bằng tài năng văn chương của mình với ngôn ngữ sâu cay ông vạch mặt không khoan nhượng sợ sệt. Các bài thơ bài vịnh bài văn của ông đa số dành để đả kích bọn này như: Tranh giành lý trưởng Vịnh con tôm Vịnh hát bộ Văn tế Chánh Năm Vịnh Ông Táo Con mèo Con muỗi Cây tre…Ví như:

“Thần quyền tế cũng sắc trời phong

Chức chưởng làm chi giữ cõi đông

Nồi gạo lo toan ngày sợ hỏng

Hơi đồng liếm láp bữa ngồi trông…

…Oai quyền trong xó vui chi đó

Đè nặng trên đầu có biết không?

Lành dữ chuyện đời sao ngậm miệng

Nực cười xác đất nén ba ông…

                                 (Vịnh ông Táo)

Hoặc:

“Huênh hoang chi lắm hở mèo ơi

Mình lại khen mình cũng thế thôi…”

                                (Vịnh con mèo)

Hay là:

“Nghĩ muỗi như bay đủ mọi điều

Vật chi có thiếu hỡi còn kêu…”

                               (Vịnh con muỗi)

Bằng giọng văn giàu hình tượng sắc sảo nhân hoá một cách tài tình ông mượn việc mô tả những con vật sự vật bình thường trong cuộc sống để ám chỉ bọn cường hào sâu mọt bất tài nhưng lộng quyền hà hiếp nhân dân tiên đoán số phận của bọn chúng. Thơ văn ông phần lớn các tác phẩm có nội dung trên.

Ngoài ra Tú Quỳ cũng có nhiều sáng tác thuần tuý mang giá trị văn học đặc sắc như: Văn tế Bá Bảy câu đối làng Đồng Tranh bài thơ Nhớ nhà…và một số tác phẩm khác có tính trào phúng vô thưởng vô phạt nhằm mục đích tạo nụ cười hồn nhiên lúc trà dư tửu hậu.

Tú Quỳ qua đời vào những giờ đầu ngày mồng 6 tháng 3 năm Bính Dần (17.5.1926) năm Bảo Đại thứ I hưởng thọ 98 tuổi.

Ông mất đi đất Quảng mất một tài năng văn học nhưng sự nghiệp thơ văn của ông vẫn mãi mãi tồn động trong lòng mọi người mọi thế hệ. Ông đã đóng góp cho kho tàng văn học Quảng Nam nói riêng cả nước nói chung những bông hoa đầy hương sắc góp vào vườn hoa văn học của dân tộc để chúng ta những thế hệ cháu con cần giữ gìn trân trọng!

                                                                                 N.H.T.

 

 

 

 

 

 

More...

GIÓ KHÔNG MÙA

By nguyễn hải triều

                           GIÓ KHÔNG MÙA

                                                                    Nguyễn Hải Triều

                                                                      (Gởi Em Đài Các)

Em vô tình

gói ngọn gió thời gian vào chiếc lá

ngọn gió không mùa

không tuổi tên vừa quen vừa lạ

từng đã xuân nắng trổ ấm hoe vàng…

 

Bỗng dưng con đường

cứ chợt gió lang thang

nỗi nhớ chạm tôi vào lan man màu tím

đọng lại mưa chiều mây sớm

sương khói em về mỏi mắt trông!

 

Gởi vào mênh mông

phù du thận phận

                               nghe thao thức mơ hồ ngấn lạnh

hoa cỏ sắc trời ngọt mùa yêu thương

                               phiếm đàn xưa câu ru phấn hương…

 

Giọt giọt khát khao

từ thẳm xanh của lá

đam mê cát bụi phù vân

có hạt lúa vàng bận trăng non rơi vãi

lặng thinh em dệt những mùa màng…

 

Tôi về phía em

cỏ xanh giấc mơ

thấy mình nắng vàng hoa rộ

cúi đầu lạy đất đai mùa đi thác đổ

thủa gió Xuân thì còn lại Em Tôi!

                                                 Tháng 3.2011

                                                       N.H.T.

                                                                              

More...

HƯƠNG NẾP

By nguyễn hải triều

HƯƠNG NẾP

                                                                                 Tản văn Nguyễn Nhã Tiên

 

Có một cánh đồng khói thơm mà dường như tôi đi qua không hết bao giờ thời tuổi nhỏ thì quá đỗi mông mênh đến hồi tóc bạc lại hóa thành vô tận. Cái cánh đồng hay gọi một cách đầy đủ hơn là khắp cả làng quê của tôi từ xa xưa cho đến bây giờ hễ thời gian đến ngày cận kề với Tết là nơi đâu cũng tràn ngập một thứ khói tỏa bát ngát mùi hương. Một thứ mùi hương cũng mộc mạc đơn sơ kiểu “hương đồng gió nội” như trong thơ Nguyễn Bính chỉ có điều “hương đồng gió nội” của thi sĩ thì quả mỗi ngày đã “bay đi ít nhiều” có khi còn bay đi hết sạch sành sanh nữa là còn cánh đồng khói thơm của tôi thì vĩnh cửu nó có thể tan vào đâu đó ẩn vào đâu đó và đến hẹn là như chim én bay về không trễ một ngày giờ nào.

Tôi muốn nói đến mùi hương nếp thơm của bao đời nay. Cố nhiên ngày thường thì nó vẫn thơm nhưng mà lẩn khuất đâu đó giữa...ngày thường ngày tết thì không lặng lẽ như thế mà là ngày “hội hè” của tưng bừng các loại bánh trái. Xin được nói ngay bánh trái ở đây không hề là những thứ được chế biến từ những nhà máy được đóng hộp bao bì kiểu sức sặc sỡ bóng lộng màu sắc mà có khi một phần nếp chín phần...thập cẩm khác. Và lại không chừng còn cả melamine cho đến...bột đá. Ngày “hội hè” bánh trái ở những làng quê vào mỗi dịp tết là ngày để các chị các em thỏa sức thi thố cái nghệ thuật khéo tay gói gắm của mình. Bánh ít bánh ú bánh chưng bánh tét bánh nổ bánh tổ bánh in bánh phu thê... và hầu như loại bánh nào cũng được chế biến ra từ nếp nguyên chất một trăm phần trăm không pha tạp không bao giờ biết đến sự giả tạo. Mà nếp nào phải chỉ một loại nếp không đâu nào là nếp hương nếp bầu nếp cái nếp tẻ...cho đến cả miền núi và những vùng cao nguyên còn góp thêm vào ngày hội bánh trái một loại nếp dẻo thơm đầy sức quyến rũ gọi quen là nếp núi. Cùng với sức nực mùi hương của nếp còn có các loại đậu: đậu đỏ đậu đen đậu xanh đậu nành đậu phụng. Và gừng và bí đao và khoai tây khoai lang... nhưng chung qui lại nếp được xếp đứng vào vị trí hàng đầu. Người người gói bánh nhà nhà gói bánh làm bánh. Xóm này qua xóm khác làng này qua làng khác bếp được nhóm đỏ rực trong nhà ngoài sân có khi ra tận đầu ngõ. Những chiếc nồi chiếc thùng to đùng được bắc lên lửa củi cháy đỏ hết lòng từng nồi bánh nước réo sôi sùng sục. Khói tỏa ra khắp mọi con đường làng lơ lửng bay ra tận ngoài đồng ngoài bãi. Khói bay đến đâu mùi hương nếp ngào ngạt đến đấy. Lan xa mỏng mảnh mong manh mà nồng nàn hơi ấm mà đủ sức xô dạt từng cơn gió cuối đông giá lạnh mang cái thông điệp vừa ấm áp reo vui vừa hối hả thúc giục - Tết đang về thật gần !

Không giống như ở phố phường mỗi cái tết là một cuộc chạy đua sắm sửa. Mua tất là xong. Người giàu có bạc nguyên sơ ri bạc lốc thì quẳng tiền ra mua sắm. Mới vào tháng chạp đã khệnh khạng bưng bê thứ gì cũng hàng xịn hàng ngoại chất đầy kho để no say một cái tết. Người lao động nghèo khó bạc tiền cắc tiền hào lấm láp đầy mồ hôi cũng cố chắc chiu gom góp đến cận ngày tết mới tất tả chạy ào ra chợ mua sắm vội vàng qua quít ít thứ hoa trái bánh mứt cho xong một cái tết. Người quê xa lạ với kiểu đua bơi mua sắm đó. Ăn tết là cả một quá trình thưởng ngoạn chơi xuân là dịp để mở lòng ra bày tỏ tâm tình. Mà bao giờ cũng vậy công đoạn đầu tiên bắt đầu từ việc chuẩn bị nguyên liệu cho bánh trái. Từng hạt nếp được làm ra từ sự sặn bọ đồng sâu gành cạn cuốc thêm ít thước đất khai phá ở hóc núi triền khe mở thêm ít diện tích ở cồn ở bãi để gieo cấy một ít nếp mà có cái thu hoạch dành dụm lo cho ba ngày tết. Đất ấy người quê gọi là đất mót thường không có tên trong danh bộ ruộng lúa thuế điền. Làm được hạt nào phơi phong xong bỏ vào lu vào hũ hạt đấy đậy kín nắp lại cất giữ như hạt ngọc trời cho chờ tết đổ ra mà tha hồ các loại bánh trái. Giai đoạn cam khó qua rồi bây giờ là lúc tâm hồn bay theo cùng hương nếp. Từng nhà quây quầng ngồi quanh bếp lửa đỏ gói bánh nấu bánh in bánh những câu chuyện đời xửa đời xưa lũ lượt kéo về ông bà kể cha mẹ kể con cháu kể trời sáng từ lúc nào chẳng ai hay ! Trên những con đường làng các chị các em còn tụ năm tụ bảy ở ngã ba ngã tư nơi được nhóm những chiếc lò chung nhau ran nếp. Cũng là cái cớ để hội họp nhau lại cốt là chuyện vãn tết để hương sắc tỏ bày với sắc hương mà lãng mạn phiêu bồng những e ấp thầm kín những hò hẹn mai sau !

Tôi nghiệm ra một điều rốt ráo người quê ăn tết không bởi sự no say mà đã đẩy cái sự ăn uống xuống hàng thứ yếu. Ngắm tết thưởng ngoạn tết san sẻ yêu thương tết mới là chính. Ăn gì cái ngọn lửa đỏ rừng rực thâu đêm suốt sáng ăn gì cái thứ khói bay mỏng mảnh như tơ trời la đà khắp đường quê lối xóm. Vâng ăn bằng mắt bằng môi bằng nụ cười tiếng nói...cái gì cũng bỏ vào mồm miệng mới gọi là ăn e có khi “bội thực” lăn quay ra thì còn gì xuân sắc tết nhứt. Riêng với tôi cứ mỗi lần nghe cái mùi hương nếp đến no nê lồng ngực là cái quê nhà thần thánh trong tôi hiện về đông đủ từng gương mặt thân yêu.

Đi giữa rừng hương nếp ngất ngây đến kỳ dịu ấy tâm thức con người dễ thường được quang chiếu bởi những huyền thoại. Nói một cách khác trước mọi niềm xao xuyến và khát vọng cao cả từ hiện thực của những tâm hồn phải chăng từ đấy mà sinh khai ra truyền thuyết một cái đẹp nhân văn âm ỉ ẩn tàng như một thứ lửa truyền sinh đời này qua đời khác một khắc họa của sự vĩnh hằng! Tôi đã thức với vô vàn lửa khói huyền hoặc đắm say đó để hiểu ra một lý lẽ muôn thủa vì sao giữa bao mâm cao cổ đầy giữa tràn trề sơn hào hải vị quí hiếm tận đáy biển sâu hoặc tận non cao rừng thẳm vậy mà vua Hùng chỉ chọn mỗi Lang Liêu dâng lên cho mình chiếc bánh chưng xanh bình dị đơn sơ dân dã. Hóa ra cái triết lý chăn dắt trăm họ là phải tường tận thấu rõ và chia sẻ tâm tư tình cảm với đời sống của trăm họ. Từ buổi bình minh dựng nước lửa thiêng ấy đã được thắp lên rồi hương nếp ấy đã bát ngát từ cung đình cho đến tận những làng quê gieo neo thâm sơn cùng cốc. Có quá lắm không khi bảo rằng có ở nơi đâu cái mùi hương nếp thấm đẫm trong hồn quê hương xứ sở trường cửu bền bỉ suốt mấy ngàn năm như ở xứ này. Và là tôi lãng mạn mà tưởng ra nếu cơ may đến một tháng năm nào đó thế kỷ nào đó sức vóc ta có vươn tới những hành tinh xa xôi thì tôi đoan chắc rằng ở những nơi ấy vẫn cái mùi hương nếp ngào ngạt lẫn trong khói bay gieo đầy những giấc mơ đẹp trên khắp lối xuân về !

 

                                                                                         NNT

 

 

 

More...

MƯA KỶ NIỆM

By nguyễn hải triều

               

           

 

            MƯA KỶ NIỆM

 

                                                           Nguyễn Hải Triều

 

                Nhớ đất

                trời buông nghìn sợi tóc

thành cơn mưa

mát dịu mặt đời

nắng cháy

mưa xóa nhòa nỗi khát

tình yêu đất trời cho cây trái sinh sôi

 

Gió nâng nhẹ

bờ tóc xanh bối rối

em đứng bên chiều

mây và tóc hôn nhau

mây thành sông

tóc em là con suối

chảy giữa lòng anh trăm điệu nhạc không lời

 

Tóc nối đất trời

cho nhân gian hạnh phúc

những mùa mưa

nhòa kỷ niệm cơn mưa

anh chẳng hiểu

nghe lòng anh thổn thức

em đứng bên chiều

                              mây tóc xõa ngày xưa…

 

 

More...

THI KHÚC BÃO

By nguyễn hải triều

 

 

 

      THI KHÚC BÃO

                         Nguyễn Hải Triều

 

Bày đặt làm thằng xa xứ

Nằm chèo queo trên gác lạ

Nghe mưa trút xuống đời tơi tả

Gã gió khổng lồ quất roi vào đêm

Cơn bão dữ dằn chưa tạnh phía trời em…

 

Anh lang thang theo gió

Trôi ngang từng mái ngói

Vào tận nhà ai

Em trong vòng tay cổ thụ

Nằm nghe mưa mà nhớ chuyện tình buồn

 

Anh lang thang theo dòng lũ

Nghe chúng cãi nhau bằng những lời đục ngầu

Xô nghiêng bèo bọt

Giọt sương hoảng hốt tan vào nước

Không còn trong ngần như thuở mới yêu nhau

 

Buồn quá…anh bay về nhà

Mưa trắng xóa

Làm ướt những câu thơ cũ mèm

Ghé đôi vai xương xẩu

Húc vào cuộc đời ủ ấm tình em

 

Mưa gió giăng giăng

Xòe tay vuốt mặt

Trơ vơ căn gác lạnh lùng

                        Một mình

                rượu đắng

                                 riêng chung…

 

More...

CHUYỆN CÂU HÁT XƯA

By nguyễn hải triều

CHUYỆN CÂU HÁT XƯA

                                                                                  Nguyễn Hải Triều

 

Tôi được sinh ra từ một làng quê phía tây Đại Lộc Quảng Nam. Nơi ấy có con nước Vu Gia quanh năm cần mẫn về xuôi có vườn trái loòng boong vàng mọng cả mùa thu như nhà thơ Huỳnh Minh Tâm viết: “ Cắn một miếng nhớ em bảy tám mùa vàng”.

Trái loòng boong trong tròn ngoài méo

Trái thầu dầu trong héo ngoài tươi

Thương em ít nói hay cười

Ôm duyên mà đợi chín mười con trăng…

Tuổi thơ tôi được tắm mát nơi bến sông quê. Tâm hồn tôi được tắm mát từ những lời ru êm đềm của mẹ của bà; mà đa phần những lời hát ấy là các câu ca dao hò khoan có được của vùng đất con người xứ tôi từ xa xưa truyền lại. Để rồi khi lớn khôn tôi đã thuộc làu những câu hát ấy tự lúc nào chẳng biết. Thuộc một cách tự nhiên như nó đã có sẵn trong máu thịt của tôi; máu thịt mà cha mẹ sông suối đồng bãi làng mạc rạ rơm khoai sắn đã chắt lọc cho tôi nên vóc nên hình; nên tình yêu cuộc đời.

Tôi nghe mẹ kể lại rằng ngày còn nhỏ bà hay được ngoại tôi dẫn đi xem những đêm hát hò khoan của nam thanh nữ tú trong làng. Nhờ được xem được nghe nhiều lần nên mẹ tôi thuộc rất nhiều câu hát. Bà bảo bây giờ những người hát hay hát giỏi ngày ấy đều chết cả rồi vài ba người còn sống thì đã già yếu không còn đủ minh mẫn để nhớ lại những câu hát xưa. Riêng mẹ biết tôi là người đam mê sưu tầm hò khoan nên mỗi lần về quê thì thường kể tôi nghe hoặc đọc cho tôi chép những câu hát mà bà bất chợt nhớ lại.

Hò khoan trên quê tôi là những câu hát đối giao duyên để trai gái bày tỏ tâm tình gởi gắm nỗi niềm; đôi khi trêu ghẹo cợt đùa cho thêm sắc màu cuộc sống. Lúc thì hát trên biền dâu nương bắp trên chuyến đò ngang hay giữa đồng lúa mùa cấy mùa gặt. Đôi khi mượn cảnh để tỏ tình than thân trách phận; nào là:

Thương tằm ngữa áo bọc dâu

Tưởng tằm có nghĩa hay đâu bạc tình!

Hay:

Anh về cuốc đất trồng cau

Cho em trồng ké dây trầu một bên…

Nhưng phong phú nhất vẫn là những cuộc hát có hẹn trước giữa trai gái trong làng hoặc làng này đến hát với làng khác nhân một buổi đập bắp lặt đậu có khi những đêm trăng sáng vụ mùa rảnh rang.

Nếu trong tuồng cổ hay kịch dân ca khi hát phải có lớp có làn điệu; diễn giải những mâu thuẫn xung đột…thì mỗi cuộc hò khoan cũng có nguyên tắc bài bản riêng của nó.

Đầu tiên khi đến địa điểm đã được hẹn trước đôi bên nam nữ chào nhau bằng những câu hát mở đầu. Có rất nhiều câu hát “chào” tinh tế ý nhị lịch sự:

Vô đây bớ bạn vô đây

Trầu cau ta đãi ghế mây bạn ngồi…

…Tối trời em chẳng biết chào ai

Chào chung một tiếng sáng mai hãy nhìn!

Rồi để cho không khí vui vẻ thân thiện có người lại chào theo kiểu bông lơng:

Vô đây bớ bạn vô đây

Cau trầu bát ngọc mâm xây trên bàn

Tội chi đứng sá ngồi đàng

Muồi sương sa hạt lụy nhỏ cảm thương hàn ai nuôi?!..

Sau khi chào hỏi để biết nhau rồi họ ăn trầu hút thuốc hỏi thăm và trổ tài bằng những câu hát đố. Hát đố có nhiều cách nhiều ý tứ vô cùng phong phú. Khi thì đố chữ nghĩa sự vật đố nói lái kiểu đảo ngữ Quảng Nam…để thử tài thông minh ứng xử. Câu khó mà trả lời được thì nễ phục nhau gây sự cảm mến tâm tình; còn nếu trả lời chưa được thì hát “hẹn” hát khất lại hôm sau ví như có những câu hát đố:

Tiếng đồn cô Bốn hát hay

Hỏi xem cô Bốn cối xay có mấy niềng?

Bên nữ trả lời:

Cối xay có hai mươi bốn cái niềng

Em hỏi lại anh thử ông kiềng có mấy chân?

Và nếu câu đố khó quá người ta lại vận dụng một cách linh hoạt bằng một câu đố khác thay cho câu trả lời:

Em bậu ơi! Em đố chi đố ngặt đố nghèo

Hỏi em có biết con mèo có mấy lông?

Và bên nam lại được trả lời bằng câu hát sau:

Anh về tát cạn biển đông

Đến đây ta nói có mấy lông con mèo…

Tùy theo sự thông minh và mức độ linh hoạt của người hát mà họ có những câu đố cách đố khác nhau. Nhiều khi trả lời sai ý tứ hoặc không trả lời được thì diễn biến của cuộc hát sẽ bằng những câu hát “xạo” để chọc ghẹo. Hát xạo thường là mượn hình ảnh này để nói sự việc kia ý tứ đôi khi dung tục nhưng dí dõm thông minh. Nếu cuộc chơi dẫn đến hát xạo là đổ vỡ mất vui cay cú hơn thua. Như trong hoàn cảnh sau đây từ một ý là chiếc thuyền thôi bên nam hỏi:

Thuyền em bán mấy anh mua cho

Đem về làm đò chở khách vảng lai!

Gặp câu hát tỏ vẻ xem thường nữ giới như vậy cô gái đốp chát lại ngay:

Thuyền em đúng giá ba ngàn

Không tin anh thử đội về làng anh coi!

Với câu hát ý tứ sắc sảo và rất hiểm như thế bên nam đành “tắt tiếng ca”. Chờ có vậy bên nữ hát bồi:

Thuyền em mũi phượng lá loan

Đưa người tiến sĩ chứ hạng chàng em không đưa!

Phe bên nam nghe vậy mới kịp lấy lại bình tỉnh hát luôn một câu:

Hôm nay đông khách em làm dày

Ngày mai vắng khách ăn mày em cũng đưa!

Thường khi đến độ tình cảm như vậy phải có một người đứng ra can ngăn cho bớt căng thẳng:

Chuồn chuồn đậu ngọn mía mưng

Thơm tho ai biết ngát lừng ai hay

Chuồn chuồn đậu ngọn roi cày

Cô mô hát xạo tôi quất quay mòng mòng…

Cuộc hát sẽ trở lại không khí vui vẻ ban đầu và tiếp tục các phần hát mới như hát hỏi thăm hát“kết”:

Người dưng ơi hởi người dưng

Hát chi thì hát chớ đừng hát kết duyên!

Hát kết là những câu hát nhân ngãi chan chứa tình cảm ngọt ngào. Người ta phân ra từng cặp để hát. Thường câu hát nhân ngãi có bài bản sẵn độ ví von cao đậm đà chân chất ước hẹn một tình cảm đằm thắm chân thành:

Ví dầu cổ cắt đầu bêu

Đi ngang qua ngõ cũng kêu ớ chàng

Hai tay em cầm bốn lượng vàng

Phụ mẫu biểu bỏ thì em bỏ chứ ngãi chàng em không

Ví dầu đan rọ thả sông

Trôi lên trôi xuống thiếp cũng không bỏ chàng

Ví dầu tới huyện tới quan

Lỗi em thì em chịu lỗi chàng em xin…

Đôi khi trong câu hát họ lại thầm trách móc người thương:

Qua cầu cầu yếu ta nương

Chầu rày biết bạn không thương ta rồi

Bạn không thương ta nữa thì thôi

Bao nhiêu nhân ngãi bạn bồi cho ta…

Cuộc hò khoan đến đoạn nhân ngãi là đã chín muồi. Sau đó người ta còn hát “hẹn” hát “chia” và trao nhau miếng trầu điếu thuốc làm vui ước vọng những ngày tới tốt đẹp.

Viết bài này khi mùa xuân đã về trên quê tôi. Mỗi lần về quê tôi lại mong được mẹ đọc cho nghe một vài câu hát xưa mà bà mới nhớ ra với tôi là điều vô cùng quý giá. Chao ôi! Sẽ có vô số câu hát hay của ngày xưa truyền lại để thế hệ chúng ta gìn giữ bảo lưu và phát huy. Hãy gìn giữ  nó như một báu vật để phục vụ đời sống tinh thần của cộng đồng; Giá trị sẽ mãi mãi trường tồn trong kho tàng văn hóa dân gian của quê tôi của cả miền cả nước.

Nhưng để có được những câu hát xưa và gìn giữ bảo lưu nó; trách nhiệm này không chỉ của riêng ai!

                                                                                                                                            

                                                                           N.H.T.

 

 

 

 

 

 

 

More...