CHÙM THƠ VĂN NGHỆ ĐẠI LỘC 2012
nghaitrieudl | 18 January, 2012 07:46
*Tạp chí Văn nghệ Đại Lộc vừa ấn hành nhân dịp Xuân Nhâm Thìn 2012.Nguyễn Hải Triều xin giới thiệu cùng bè bạn gần xa chùm thơ của nhiều tác giả trong Văn nghệ Đại Lộc.
MỘNG HOA ĐÀO
Huỳnh Minh Tâm
bữa đi mãi mãi là về
tự trong quá khứ mộng mê hoa đào
dường như mồng một năm nào
trời xanh bất tuyệt câu chào rất quen
cây cầu tôi xuống người lên
hoa đào tôi nhớ, tôi quên cành đào
lâu lâu ngồi nhớ trăng sao
nhớ con bươm bướm bay vào mồng hai
nhưng tình mau nhạt chóng phai
đọc thơ mơ mộng lai rai đỡ buồn
hoa đào nào thức và thơm
nghĩa là ngủ với cô đơn dịu dàng.
NHÀ NGOẠI TÔI TRĂNG LÊN
Nguyễn Giúp
Nhà ngoại tôi bên kia sông
Nơi phù sa cơi cánh cò trắng bãi
Em chăn bò rắc vàng ngọn cỏ
Tăm cá lặn xuống chiều biệt tăm
Những ngày cánh nâu đầu trần
Ấu thơ bay không qua triền đồi
Em đứng đợi hoa ngô bật nụ
Tím bầm khúc sông
Những đôi mắt xanh đuổi theo chiều thẳm xanh
Âm ba trăng non gội tóc
Gàu khua rụng giếng làng
Sực nức em
Đinh ninh sông đã rằm
Đinh ninh ríu ran kẻ ngực
Đêm tràn giấc mơ chẽ đôi ao nhà
Tôi mang một nữa em ra đi
Quê ơi ngày mẹ tôi xưa đầy đặn
Cha tôi xưa dặm trường
Cớ sao em không đi bên đời tôi cho hết thảy như cha mẹ tôi với nhau
Cớ sao em không ra sông nhìn nước chảy
Cớ sao em không bội thực tình yêu của tôi dành cho em
Cớ sao em qua cầu cho tôi bạt xứ
Và… như đã mùa màng rơm rạ ngủ
Cứ phù sa vô tội sông lở bồi đâu đâu
Gom hết tuổi mình xòe bàn tay lật gió
Nỗi buồn mộng du
Quê nhà chừ mặt sông ngầu ngầu say
Liêu xiêu bóng núi
Chắc đường về còn xa?
Bên kia sông đã mấy lần em mười lăm mười sáu
Khuya khoắt một nụ rằm
Nhà ngoại tôi trăng lên!
TIẾNG GỌI ĐÒ
Lê Lộc Tân
Anh về Đại Lộc mùa mưa
Sông sâu, nước lớn, đò vừa sang ngang
Hai mươi năm - mấy lỡ làng
Trong anh vọng tiếng mênh mang gọi đò…!
Đò ơi… ! Anh gọi ơi đò… !
Vẳng trong sương khói bến bờ lau thưa
Anh về Đại Lộc ngày mưa
Người ơi nhớ mấy cho vừa tuổi xanh
Em còn đứng đợi đầu ghành
Anh còn lận đận công danh một đời
Vu Gia bên lở bên bồi
Đò ơi còn đợi chở người qua sông !
KÝ ỨC TÌNH YÊU
Lữ Thứ
Gửi lại anh mùa thu vàng lá rụng
Gửi lại anh thời vụng dại nơi này
Nơi cây lá đầm sương khuya ướt đẫm
Nơi tình yêu lãng đãng gió thu lay
Gửi lại anh ánh trăng vàng cài tóc
Đôi tay gầy e ấp phút thần tiên
Phút say đắm khép hờ đôi mắt ngọc
Phút đê mê hôn nhẹ tóc nhung huyền
Gửi lại anh những tờ thư tình ái
Những lời yêu đất nước quê hương
Những rung động đầu đời thì con gái
Những dạt dào, những tha thiết yêu thương…
Rất có thể mình xa nhau bất chợt
Anh giữ làm kỷ niệm buổi chia ly
Em cũng tự giữ cho mình một chút
Làm hành trang cho giây phút phân kỳ
Và nếu nếu chúng mình còn sống sót
Hẹn ngày về ta nhắc lại chuyện xưa
Những ký ức tình yêu thời xa lắc
Bỗng tưng bừng nhảy múa giữa trang thơ!
Cuối đông 2011
NẺO VỀ
Nguyễn Hoàng Sa
Bóng thòi gian
Che lối mòn
Biền dâu xanh cứ chập chờn trong mơ
Cầu chìm
Sông chảy lặng lờ
Đục trong bồi lở khuất mờ dấu xưa
Về theo gió gọi sang mùa
Nỗi chi
Thu nhuộm nắng mưa như là…
Người đi
Lạc phía trời xa
Biết còn nhớ thuở mượt nà dâu xanh
Qua rồi năm tháng chiến tranh
Quặn đâu con đất chao chênh bãi bờ
Thuyền nan bên nước mơ hồ
Gọi trong sâu thẳm ảo mờ dòng trôi
Đời là
Sấp ngửa cuộc chơi
Chừ về vướng giữa đầy vơi nỗi niềm
Tóc nghe sợi chín sợi hườm
Cúi hồn hớp chút nổi chìm sông quê
Lỡ mai kia lạc nẻo về…
NHỮNG BÓ RƠM VÀ EM ĐẾN
Trần Văn Tâm
Những bó rơm bỏ về từ nguồn
Những cánh mạ theo về từ nguồn
Cong cái rét hút heo bờ châu chấu
Âm âm triền sông
Lạnh dấu chân màu khói
Sục phù sa ám nhão
Lần tìm về sau gốc rơm
Bỏ về dưới bóng rơm
Tuổi thơ buồn bóng nghé
Mùa đông đồng trơ bóng mây
Đất khép mùa vũ hội
Bóng người già cuộn mình
Vì sao cây mọc ra?
Vì sao đêm mọc ta?
Ý nghĩ đến từ vũng nước đọng trước căn phòng bỏ trống có vài bông cúc dại mọc dưới đêm
Ý nghĩ đến từ lúc anh định đổ xăng vào đầu gối và rồ ga chạy về phía em
Ý nghĩ đến từ cọng rơm trên mái nhà bất ngờ cựa mình nẩy hạt và đàn cá rô bơi tung tăng giữa rui mè cột kèo đớp phù du
Va nào chân không phát thanh âm không hạn định…
KHÚC CHIỀU XUÂN
Nguyễn Nhã Tiên
Tưởng hoài một hương sắc
mơ hoài tuổi cỏ non
sương gieo làm nước mắt
cho cỏ biếc linh hồn
ban mai đầy mật ngọt
em bày tiệc xuân sang
Yêu hoài một tình yêu
hát hoài một khúc hát
sông trôi từ lồng ngực
bát ngát trời thanh âm
bên cỏ hoa hạnh phúc
định mệnh rất âm thầm
giấc mơ xanh mặt đất
bay lên thành sông Ngân
Ở hoài một thân thể
thức suốt cuộc vuông tròn
chừ còn ta sông cạn
đồng ca em đá mòn
đám mây bay hoài cổ
tự đốt cháy hoàng hôn
câu gừng cay muối mặn
dong ruổi ngày phù vân !
Chiều xuân một mình uống trà
nói chuyện với giả sơn
Nguyễn Đức Dũng
Chày kình động một thinh không
Tầng cao đá dựng mênh mông hướng nhìn
Thiên thu sóng nhịp chân ghềnh
Chiêm bao ai đó giữa mình với ta ?
Trăm năm trong cõi ta bà
Bầu trăng túi gió gọi là hôm mai
Nữa sau nắng rộng mưa dài
Chỉ xin làm một dấu hài …vân du .
VỌNG NGUỒN
Đinh Huyền
(Kính tặng anh Phụng Lam)
Khăn áo câu thơ quay quắt tìm về
Sợ làng không nhận mặt
Đùn giấc mơ phía trước
Lang thang triền sông
Vốc chiều uống thoả
Tuổi thơ xanh ký ức quê nhà
Lam Phụng ngày xa
Trăng buồn gội tóc
Xao xác bờ tre sáo vọng cung trầm
Nhiều đêm chong đèn phố thức
Nỗi niềm gởi sóng Vu Gia
Mắt cay khói đồng rơm rạ
Chín chiều thắt ruột cò xa
Tháng ngày bao mùa gió ngược
Dãi dầu nhớ mẹ
Mưa nắng nhớ cha
Lênh đênh đò chiều Lục Bắc
Thương mình tóc đã sương pha
Dẫu không cùng quê bùi ngọt
Phận đời trôi dạt nông sâu
Vọng nguồn trái tim vẫn nhắc
Tạ ơn cuối đất cùng trời
LỜI NGUYỆN MÙA XUÂN
NGÔ THỊ THỤC TRANG
mẹ ơi mùa xuân này con gái mẹ
bắt đầu ngồi đóng gói những viển vông
khi chợt hiểu cuộc tìm nào cũng đắt
mà hoa mai năm chỉ nở một lần
mẹ ơi mùa xuân này con gái mẹ
lần đầu tiên biết nắng cũng nhu mì
nắng xinh đẹp bởi từng nhường nhịn
để xuân ngời thơm hương sắc tràn trề
mẹ ơi mùa xuân này con gái mẹ
xin cúi đầu im lặng trước thời gian
khi bất giác con chạm vào mây trắng
chiều mẹ ngồi nhặt thóc bên thềm
mẹ ơi mùa xuân này con gái mẹ
nhận ra cuộc đời sau những đêm đông
thấy tất cả những gì huyên náo
rồi cũng về bên bếp lửa vô ngôn
mẹ ơi mùa xuân này con gái mẹ
thèm ấu thơ thả mơ ước lên trời
con sẽ chắp tay ước điều thành thật
nguyện bình an đến mỗi tâm người
BÀI THƠ TÌNH THÁNG CHẠP
nghaitrieudl | 05 January, 2012 07:52
BÀI THƠ TÌNH THÁNG CHẠP
Nguyễn Hải Triều
Sợi mưa quấn chặt bước chân em ra chợ
Bùn đất sẽ phù sinh cát bụi phong trần
Những vũng nước nhập nhòe chiêm bao ánh mặt trời
Có khi mặt trời đã chết?
Người đàn bà bồng bế lời ru bên xóm nhỏ
Khúc thức không đầu không cuối tràn lan
Đứa trẻ khóc. Và nỗi buồn câu ầu ơ lạc lỏng!
Em cười chi khi gió tạt phía sau vườn?
Người đếm khó nhọc áo cơm toan tính
Không nghỉ ngơi cứ đi dọc triền bãi mé sông
Giấc mơ về giọt nước chảy ra từ hốc mắt đông chí
Thành triệu sương mai ủ mầm lá trên đồng…
Tôi gói cơn lạnh co rút vào cổ áo ấm
Mắc nợ lời hẹn đồi sim nhiều tháng trước sang mùa
Mắc nợ em tiếng chim con suối trong rừng xưa mẩy gió
Cánh hoa tím vàng hóa thân hương sắc tình yêu
Tháng Chạp đi qua những buổi chiều
Những ban mai em mắc câu thơ tình trên táng lá
Tôi viễn vọng tôi hư ảnh tôi nỗi buồn không lời
Giữa bề bộn phù du tăm cá mù khơi!
Con đường lầy lội sẽ vàng lên màu nắng
Em về chưa tôi đợi gió xuân sang?
Sẽ thương nhớ sớm mai
Sẽ chiều lên bảng lảng
Chờ em qua đây!
Tháng Chạp câu cho em
Tình tôi như bát nước đầy!
Cuối đông 2011
GIẤC MƠ ĐỜI BẤT TẬN...
nghaitrieudl | 30 December, 2011 07:49
GIẤC MƠ ĐỜI BẤT TẬN VÀ BÓNG DÁNG KHÓI RẠ MÙA GIÓ NỔI
Liêu Thái
KHÓI
Nguyễn Hải Triều
Những sợi khói nấp sau giấc mơ
bay dọc cánh đồng ký ức
sợi khói lấm lem
thơm mùi rơm khô cỏ mục
em ra đồng bàn chân xướt gió lá non…
Ruộng bãi chiêm bao
loanh quanh thả sợi nắng vàng
xa xăm em với ngày xưa cũ
cha gánh nhọc nhằn lội qua mưa bão
mẹ gieo ngọt ngào
tìm mùa ngậm sữa chờ sương.
Bến có đợi người
ai nợ mấy mùa trăng?
nỗi nhớ còn không
những chú trâu già tuổi buồn như đất?
ngày mùa đi khuất theo bụi cát
để tôi tìm về gọi em chim Sẻ chim Sâu!…
Tiếng nghé ơ… cọ mây gió bạc đầu
khói rạ đồng chiều lơ ngơ cò trắng
bay qua mùa tôi qua tận cùng năm tháng
cay mắt xa xăm
mỏi ngày
đợi chín giấc mơ quê!
Đọc thơ Nguyễn Hải Triều, bập vào người đọc cái cảm giác từ đầu tiên mịt mùng khởi sự ngu ngơ đến thanh tân tố mệnh lạnh lùng chung cục cà rem tan, hà rầm gió bụi muộn màng… dạ thưa…! Đọc kiểu gì, bắt đầu từ đâu cũng thấy cái chất quê mùa ngai ngái khói rạ đồng quê, cái lơ mơ của một kẻ hành giả ngồi chiêm nghiệm cùng giấc mơ đời bất tận trong buổi hoàng hôn thế sự, trong buổi lập thể ngôn lời xa xăm ký ức…
Những sợi khói nấp sau giấc mơ
bay dọc cánh đồng ký ức
sợi khói lấm lem
thơm mùi rơm khô cỏ mục
em ra đồng bàn chân xướt gió lá non…
Đã nhiều lần, không biết rủi hay may, hên hay xui nhưng cứ đọc vào thơ anh, tôi liền bắt gặp ngay hình ảnh khói rạ, cánh cò, cỏ mục, triền sông quê, mùi thơm cỏ mục, lá non… Những hình ảnh ấy, trong một nghĩa nào đó, xét theo góc độ phân tâm học, nó là vết cứa tâm hồn, là dấu khảm của tâm linh, vết rạn trải nhiệm tuổi thơ mà ở đó, nếu trải nghiệm ấy kết hợp với chủng tử riêng trong một cơ địa trong lành, nó sẽ cô đọng thành thi ca, nếu ngược lại, đó sẽ là hiện thân của dã tâm và man rợ… Rất may, vết cứa nơi linh thức Nguyễn Hải Triều là một vết lành tính, nó nghiễm nhiên hóa hiện thành thơ. Và, không những thơ thuần túy chợt đến chợt đi mà đó là thơ xuyên suốt, bền bỉ, ám ngộn tuổi đời và thời gian.
Ruộng bãi chiêm bao
loanh quanh thả sợi nắng vàng
xa xăm em với ngày xưa cũ
cha gánh nhọc nhằn lội qua mưa bão
mẹ gieo ngọt ngào
tìm mùa ngậm sữa chờ sương.
Thi ca, sự chín muồi và độ căng nội hàm của chữ, dù nói như thế nào, nó vẫn phụ thuộc vào nội năng và trải nghiệm cá nhân. Trong trường hợp nôi năng sung mãn nhưng thiếu trải nghiệm, tác phẩm sẽ xuất hiện sự bứt phá thái quá, náo động, thậm chí hoang tưởng về giá trị cá thể, rơi vào ảo tưởng thiên tài… Và ngược lại, trải nghiệm sâu sắc, có độ chín về thời gian trong cuộc chơi chữ nghĩa nhưng thiếu nội năng, sẽ dẫn đến sự sáo mòn, trống rỗng và lặp lại, lối mòn vô thức… Trong một trường hợp khác, độ chín trải nghiệm và nội năng đủ để bùng vỡ, qua thời gian, câu chữ sẽ chín và cái nhìn nội tâm sẽ phát sáng theo chiều kích đốn ngộ của Thiền tông hoặc mặc khải của sáng thế giáo. Và theo chiều hướng này, cách nhìn cuộc đời mỗi lúc trở nên lung linh, huyền ảo, ẩn mật dựa trên ngôn ngữ đậm chất siêu thực và hoang ám chiêm bao. Một giấc chiêm bao đã quay về với xa xăm em với ngày xưa cũ/ cha gánh nhọc nhằn lội qua mưa bão/ mẹ gieo ngọt ngào/ tìm mùa ngậm sữa chờ sương… Nơi ruộng bãi chiêm bao…!
Bến có đợi người
ai nợ mấy mùa trăng?
nỗi nhớ còn không
những chú trâu già tuổi buồn như đất?
ngày mùa đi khuất theo bụi cát
để tôi tìm về gọi em chim Sẻ chim Sâu!…
Cũng trên cảm thức này, căn cội, khởi sơ của tâm linh được định vị bởi một dấu ấn nào đó trong vô thức và trong quá trình phát sáng của huệ năng, những biểu tượng được “lập trình” tuổi thơ sẽ dần dần quay về một cách không định dạng. Những dấu ấn này sẽ ám ảnh người nghệ sĩ cho đến lúc nhắm mắt, tắt thở… Và, trong quá trình sống, lập ngôn, nó hiện hữu như một ấn chứng định mệnh, bến đợi, nỗi nhớ, nẻo bụi cát và những em chim Sẻ, chim Sâu… là hiện thân của dấu ấn tuổi thơ, của buổi nguyên sơ đón nhận những hình hài cuộc đời ban cho, để rồi đeo mang, nâng niu, hờn giận, thương yêu, vui buồn hạnh ngộ cùng nó qua từng bước thăng trầm trên mặt đất hoang vu mà cà chớn đáng yêu này!
Tiếng nghé ơ… cọ mây gió bạc đầu
khói rạ đồng chiều lơ ngơ cò trắng
bay qua mùa tôi qua tận cùng năm tháng
cay mắt xa xăm
mỏi ngày
đợi chín giấc mơ quê!
Âm thanh và hình ảnh, đâu là cái có trước? Với thi ca, cách đặt câu hỏi như vậy sẽ rơi vào hai trạng thái: khùng hoặc không biết gì về thơ. Nhưng nghiệt nỗi những câu thơ giá trị thường cho người đọc câu hỏi này. Bởi thứ âm thanh ẩn náu trong dòng phức cảm từ cứ luôn thách đố cả người viết và người đọc về sự hiện hữu, chẳng khác nào một công án Thiền. Nhưng bất khả tư nghì, hỏi để mà hỏi, khùng để mà khùng và trả lời để mà không trả lời gì cả, mặc dù nó vẫn đề huể bất khả giấu giếm.
Tiếng nghé ơ đầy mộng mị chiêm bao cọ mây bạc đầu trong buổi đồng chiều khói rạ lơ ngơ cò trắng bay qua mùa tôi qua tận cùng năm tháng cứ như một câu hỏi Nhân Sư truyền thuyết thách đố người nghệ sĩ tìm và tìm, tìm cái gì, tìm điều gì thì không rõ, nhưng càng nghe, càng cảm lại càng muốn tìm, tìm vào tận cốt tủy của mình nhưng bất khả giải và chung cục bằng con mắt cay nhìn về xa xăm, mỏi thời gian – mỏi ngày đợi chín giấc mơ quê.
Đến đây, ngườii đọc lại thêm một câu hỏi khác: Giấc mơ quê là giấc mơ gì? Có giấc mơ quê ắt hẳn có giấc mơ thành phố? Và có cả giấc mơ ngoại ô? Thưa là có, nhưng nó như thế nào, giống và khác những giấc mơ kia như thế nào, thì hãy để cho chính nó trả lời với nó. Nó sẽ chẳng bao giờ trả lời thật thà với ngay cả chính nó đấy. Bởi nó đang đợi… chín!
Thưa rằng nói nữa là sai!(*)
Đọc thơ Nguyễn Hải Triều, dù đứng trên phương diện nào, cũng có thể nói rằng, mình đã bắt gặp một thi sĩ rất quê mùa, nhưng là một kiểu anh nhà quê ưa chải tóc, ưa xức một tí nước hoa để chạy ra cổng làng gặp mấy chị em thôn làng mà liếc mắt, đưa mày mấy cái rồi lại quay về nằm ngắm trăng mà ngẫm nghĩ sự đời. Một sự đời thơm mùi khói rạ, mân mấn hoàng hôn và rầm rì điệu chảy của sông. Một dòng sông chảy qua linh hồn mùa gió chướng cùng những cánh buồm thoắt ẩn thoắt hiện trong khói trời mênh mông… giữa tâm hồn thi sĩ!
Chú thích: (*)Trích câu thơ trong thi phẩm Chào nguyên xuân của cố thi sĩ Bùi Giáng: Thưa rằng nói nữa là sai/ Mùa xuân đang đợi bước ai đi vào…
GIÓ GIAO MÙA
nghaitrieudl | 22 December, 2011 08:33
GIÓ GIAO MÙA
Truyện ngắn của Nguyễn Hải Triều
“…Gởi làng xưa mây trắng vắt ngang trời…”
Chiếc xe máy của hai má con đi men theo con đường nhỏ dọc bờ mương thủy lợi dẫn vào làng. Mấy người hàng xóm thấy Kim về, ai cũng cười vui. Thím Quyên vợ chú Sáu Biên đang múc nước ngoài giếng thì la to: “Anh Bốn ơi! Chim Sâu về thăm kìa!”.
Thường khoảng mươi ngày lưng nửa tháng, sắp xếp ổn thỏa chuyện gia đình, con cái là Kim tranh thủ về thăm ba. Từ ngày mẹ mất, ba ở vậy một mình. Bàn thờ mẹ lúc nào cũng ấm hơi bởi những ngọn hương ba thắp hằng đêm. Ba chẳng chịu ở với mấy đứa con trai. Ông nói: “ Tau muốn ở một mình để dễ bề hương khói cho mẹ sắp bay, khỏi bận lòng con cái!”.
Làng của Kim chỉ cách nhà chồng khoảng bốn năm cây số, hễ rảnh là vù xe máy chừng mươi phút thì tới nơi. Mỗi khi nhà có bữa mì Quảng, đúc bánh xèo, hoặc đi chợ mua được con cá, con tôm tươi, Kim đều sai thằng Cu, bé Thảo hoặc tự thân đem về biếu ông ngoại. Hồi mới làm dâu, lạ nước lạ cái. Ở nhà chồng được vài ba bữa, nhớ nhà, Kim lại bắt chồng lọc cọc xe đạp đèo về thăm mẹ. Có lần giận nhau, đùng đùng nửa ngày, Kim bỏ chồng khăn gói chạy một mạch về nhà cha mẹ. Báo đời anh chồng trẻ của Kim phải thất náy đi tìm táo tác. Chạy về nhà vợ thì thấy Kim đang dưới bếp đúc bánh xèo, miệng cười toe toét như không có chuyện chi xảy ra. Anh chồng cũng phải chín bỏ làm mười, xuống nước xin lỗi vợ, xin phép ba mẹ để “rước nàng về dinh”. Chừ đã hơn bốn mươi, sắp làm sui thiên hạ rồi. Ấy vậy mà mỗi khi nhớ lại chuyện cũ, Kim cứ tủm tỉm cười một mình.
Trong mấy anh em, chỉ hai đứa con gái là Kim và Thùy thì thường xuyên hay chạy về xem ba sống thế nào. Các ông con trai lại thi thoảng lúc có lúc không. Mỗi lần về thăm, ngoài việc dọn dẹp nhà cửa bề bộn. Nấu cho ba chén canh rau, hoặc làm món cá đồng kho lấm, (cái món ngày mẹ còn sống thường xuyên kho cho cả nhà ăn, ai cũng thích). Xong việc, Kim sang nhà ông nội hay hàng xóm để thăm chơi, hoặc ra mé đồi sau vườn nhà hái ổi; những cây ổi núi mọc hoang thấp lè tè nhưng trái thì to, vị ngọt lịm, thơm lừng. Nhiều năm rồi mà vẫn cứ xanh um, cành luôn trĩu trái. Đôi khi Kim lại thích ngồi một mình bên góc sân để nhặt nhạnh từng kỷ niệm của tuổi hoa niên ngọt ngào, êm ái nhưng cũng đầy gian khó, truân chuyên. Và trong chuổi dài ký ức ấy, hình bóng của Tín, một người bạn hàng xóm lớn tuổi đã ảnh hưởng không nhỏ trong tâm thức, tình cảm của Kim những ngày niên thiếu.
***
Chim Sâu, Chim Sẻ ( tên gọi của Kim và Thùy hồi nhỏ) lẽo đẽo theo ba mẹ từ Hòa Khánh dọn nhà về quê sau giải phóng. Ngày ấy, qua lời kể của ba mẹ, Sâu chỉ mang máng tưởng tượng đến một vùng quê xa xăm nắng bụi mưa bùn mà chưa một lần Sâu được về thăm.
Những ngày đầu chân ướt chân ráo, gia đình Sâu được họ hàng làng xóm giúp đỡ. Ông nội, các cô chú, anh chị em ra tận đầu thôn để khiêng vác hành lý, đồ đạc của ba mẹ và anh chị em Sâu. Mọi người giúp ba mẹ phát dọn vườn tược, dựng nhà trên nền đất cũ. Những ngày tháng sau đó, cuộc sống từng bước được ổn định. Cả gia đình hòa nhập với họ hàng, xóm giềng trong tình yêu thương đong đầy. Rồi chị em Sâu đi học. Lớp học ngay ở đầu làng, gần vườn nhà ông nội, nơi có nhiều ổi, bòng, quít, cam…mà cây nào cây nấy cứ đến mùa là sum suê hoa trái.
Tuổi hoa niên của chị em chim Sẻ, chim Sâu đi qua thật êm đềm, mặc dù những tháng ngày ấy trên các làng quê, người dân sống rất cơ cực. Ba Sâu làm nghề thợ mộc. Mẹ thì bươn chải biền bãi với miếng vườn thửa ruộng. Càng lớn lên, chị em Sâu càng thấu hiểu nỗi cực nhọc của những người thân và càng thấy yêu thương hơn. Có những đêm, sau khi học bài, chui vô mùng nhưng chưa ngủ. Bên ngọn đèn dầu tù mù, Sâu thấy bóng mẹ đổ dài theo chiều liếp phên tre. Mẹ thức đan áo len cho chị em Sâu, sợ mùa lạnh con cái không đủ ấm. Mẹ còn đan áo, đan khăn để bán kiếm thêm tiền trang trải cuộc mưu sinh cùng ba. Mẹ làm quần quật từ tờ mờ sáng đến tối mịt mà chẳng chịu nghỉ tay. Một bữa, giật mình giữa giấc chiêm bao, Sâu ngạc nhiên khi thấy mẹ, sau khi bỏ mùng cho con cái, sè sẹ đi về phía chái bếp, đặt bàn chân mình lên hòn đá mài thật lâu trước khi đi ngủ. Sau này lớn lên, Sâu mới biết mẹ làm như vậy là để cho vết chai sạn dưới bàn chân đỡ đau. Bàn chân bươn chải của bà mẹ quê một đời dầm mưa dải nắng. Sâu nhớ mẹ có mái tóc thật dài và xanh mượt. Cứ mỗi lần chải mẹ phải đứng trên giường để tóc khỏi bết ra đất. Khi ra đồng, mẹ bới tóc thành cái búi thật to sau gáy, để lộ khoảng cổ trắng ngần. Quê ngoại Sâu ở bên sông. Mẹ bảo “con gái lớn lên trên đất Ba châu thì tóc dài da trắng!”.
Rồi chuyện mẹ gặp ba như một sự sắp xếp của tạo hóa. Mẹ kể, lần ấy ông ngoại rước nhóm thợ mộc của làng Bình Cư bên sông qua sửa ngôi nhà ở ba gian của mình. Lần đầu tiên gặp người thanh niên vừa khéo tay, siêng năng, ít nói; lại kéo đàn nhị nghe đến mê hồn. Bỗng nhiên mẹ linh cảm rằng hình như mình sinh ra là để thuộc về con người này. Năm ấy mẹ mười tám tuổi, giỏi giang, nết na. Đám trai làng nhiều người để ý nhưng mẹ lại chẳng chọn được anh nào. Vậy mà khi gặp ba thì như duyên tiền định!
Cưới nhau được vài năm, mẹ sinh anh Hai. Bom đạn khốc liệt. Cả nhà tản cư ra Hòa khánh. Chim Sẻ, Chim Sâu và cả thằng Trung, nhúm rau thai đều chôn ở xứ người. Trong ký ức thời thơ ấu của Sâu vẫn nhớ như in, có những đêm ba ngồi trên chiếc chỏng tre bên gốc cây vú sữa trước sân nhà, kéo nhị và uống rượu một mình. Tiếng đàn của ba thánh thót chảy vào đêm vắng nghe miên man một nỗi u hoài về thân phận, về kiếp người; mỗi ngày qua đi bởi nợ áo cơm. Từ khi mẹ mất, chị em Sâu và xóm giềng không còn được nghe tiếng đàn nhị của ba nữa. Cây đàn treo trang trọng bên góc bàn thờ như một chứng nhân. Bụi thời gian phủ đầy màu u uẩn nhớ thương và hoài niệm. Những năm tháng sau đó, cứ cách vài ba buổi chiều, không kéo nhị nữa nhưng ba vẫn một mình ngồi trên chiếc chõng tre nơi gốc cây vú sữa bên góc vườn. Đôi mắt ráo hoảnh, mỏi trông về phía xa xăm như ngóng tìm một hình ảnh thân thuộc đã ra đi biền biệt. Mỗi lần như thế, nhìn chiếc bóng xiêu xiêu trong nắng chiều sấp tắt, chị em Sâu và cả bà con lối xóm ai thấy cũng xót lòng và càng thương ba hơn.
Những ngày đầu từ Hòa Khánh về quê, chị em Sâu chẳng biết chơi với ai. Vào lớp học thì ngồi co rúm một chỗ, đơn độc, sợ sệt vì nhìn đâu cũng lạ. Mỗi buổi học xong, hai chị em dắt nhau đi một mạch lặng lẽ về nhà vì sợ mấy đứa hàng xóm ăn hiếp. Là chị em sinh đôi nhưng Sâu gầy còm, ốm yếu. Sẻ mạnh mẻ, cứng rắn hơn nên luôn phải như người bảo vệ cho chị mình. Một bữa, sau khi tan học. Vừa dắt nhau ra khỏi cổng trường thì bị một nhóm học trò cùng lứa trong làng chặn đường. Đứa sờ tóc Sâu, đứa bẹo má Sẻ. Chúng gây sự tìm cớ để bắt nạt hai chị em. Sau này Sâu mới biết đứa cầm đầu là con bé tên Gái, con bà Thôi ở xóm Miếu. Chúng vây quanh chị em Sâu, còn hai đứa thì ngồi thụp xuống đất, ôm lấy nhau, co rúm lại như chiếc lá ngủ ngày gặp gió, trông thật tội nghiệp. Con Gái kéo áo Sâu nói với cả bọn: “ Hai đứa hắn là dân Đà Nẵng đó bay!”. Một giọng cười hi hí, rồi nói: “Con nít mà cũng để tóc dài à? Bôi cho nó miếng đất bùn để biết mùi nhà quê đi!”. Trước khi chúng kịp làm cái việc đáng ghét ấy, thì anh Tín xuất hiện như một vị cứu tinh. Chúng ù té bỏ chạy hết. Anh Tín đưa chị em Sâu về nhà. Hôm ấy vì sợ quá, Sâu khiếp như người mất hồn; còn Sẻ thì cứ im ỉm, lầm lì, môi bặm lại mà nước mắt thì không có một giọt.
Anh Tín không cha mẹ, gốc tích. Hàng xóm kể rằng, cô Lụa xin anh ở ngoài cô nhi viện về nuôi vì cô không có con. Tín hơn chị em Sâu chừng ba tuổi nhưng trông anh già dặn, từng trải như một thanh niên. Da ngăm đen, tóc xoăn, làm việc chi cũng giỏi. Nhà cô lụa nuôi hai con trâu cày đều được anh chăn dắt, cắt cỏ. Tuổi còn nhỏ nhưng công việc nhà anh một tay anh cán đáng. Tính tình lại hiền như đất nên hàng xóm ai cũng khen ngoan, “thằng nhỏ trông vậy mà có nghĩa”. Hồi ấy trong nhà Sâu chỉ có anh Hai là lớn, học trên lớp. Anh thường xuyên đọc sách truyện phiêu lưu của các nhà văn viết về tuổi thiếu nhi. Đọc được truyện mô hay, anh kể cho chị em Sâu nghe. Trí tưởng tượng của Sâu phong phú lắm. Ai cũng bảo Sâu là cô bé đa cảm, đa sầu, hay buồn vu vơ, mai sau dễ thành nhà thơ, nhà văn cũng nên. Chẳng hiểu từ khi gặp anh Tín, Sâu cứ mường tượng anh như các nhân vật Thằng Vũ, Thằng Côn trong truyện Duyên Anh đến thế. Sâu quý mến anh, xem anh là thần tượng. Từ đó, suốt chiều dài quảng đời tuổi hoa niên của chị em Sâu đều không thiếu bóng dáng của anh Tín. Những buổi chiều rủ nhau đi đào dế ngoài biền. Anh Tín đào, Sẻ đổ nước vô hang cho dế chui lên. Bắt được một con là anh xâu vào dọc dài đưa cho Sâu cầm lon ton chạy theo sau. Lần bắt dế nào anh cũng nhường phần nhiều cho chị em Sâu. Buổi trưa nắng chang chang, đánh trâu ra bến sông mẹp nước. Ngang qua nhà anh gọi: “Sẻ, Sâu ơi!”. Thế là đang làm chi cũng bỏ, hai đứa ngó trước ngó sau rồi chạy ù ra ngỏ. Anh kéo đứa trước đứa sau ngồi trên lưng trâu lững thững ra bến sông. Anh cho trâu mẹp nước, rồi xách ná đi bắn chim. Chị em Sâu thì tập bơi, ngụp lặn thỏa thuê một hồi, rồi anh lại kéo hai đứa lên lưng trâu chở về nhà.
Mùa gió nồm, anh Tín dẫn hai chị em ra bãi cỏ đầu làng thả diều. Chiếc diều của anh bao giờ cũng bay cao hơn diều bọn con Gái, thằng Đen… Mỗi lần như vậy, chúng nó nhìn Sẻ, Sâu với ánh mắt ghen tị mà chẵng làm chi được. Rồi có những bữa nghỉ học, đi lấy củi trên ngọn đồi sau nhà. Anh vừa đốn, vừa bó cho cả hai đứa. Anh như một vị thần hộ mệnh, bao giờ cũng chở che, bênh vực, giúp đỡ hai chị em, gắn bó mật thiết như người trong nhà. Trong mắt Sâu, Tín là một người hùng.
Anh Tín chết vào một buổi chiều tháng Mười. Hôm ấy trời không mưa. Chị em Sâu nghe tin khi đang học trên trường xã. Sâu sững sờ tự hỏi, chẳng lẽ đây là sự thật sao? Hai đứa vội vàng xin phép cô giáo bươn bả chạy về làng. Người ta vừa khiêng xác anh Tín đặt trên chiếc chỏng tre giữa nhà. Cô Lụa ngất xỉu phải cấp cứu mấy lần. Hàng xóm người chạy ra kẻ chạy vào lo đám ma cho anh. Sâu nhớ mình đã khóc thật nhiều nhưng không dám chạy đến nơi để nhìn mặt anh lần cuối. Chính điều này cũng đã làm cho Sâu cảm thấy mình có lỗi với anh đến tận bây giờ. Anh chết do đạp phải một trái mìn còn sót lại trong chiến tranh khi leo lên đồi tìm con trâu đi lạc. Anh chết, cả làng đều khóc. Thương tiếc một đứa trẻ siêng năng, tốt bụng, hiền như đất mà mệnh trời lại chẳng công bằng.
Rồi thời gian cứ trôi vùn vụt. Thoáng chốc đã đi qua thời con gái của Kim và Thùy, hai con Chim Sâu, Chim Sẻ ngày xưa trên mảnh đất quê hiền hòa, đong đầy những ký ức tuổi hoa niên. Những đêm trăng gánh nước giếng làng; những chiều bến sông giặt áo;…và bàn tay ấm nồng run run vụng về cấm nắm của người con trai làng bên e ấp mối tình đầu…tất cả chỉ còn trong kỷ niệm êm đềm.
Từ cái ngày mẹ thành khói biếc mây ngàn. cứ mỗi lần về thăm nhà, ngồi một mình, vẳng nghe âm thanh từ ký ức xưa xa vọng về, là Kim nhớ như in lời mẹ dạy con gái: “ Lớn lên khi lấy chồng, con nên chọn đứa ở phía xuôi dòng nước chảy thì cuộc sống mới thuận buồm xuôi gió! Lấy người miệt trên thì sẽ sống cơ cực lắm đó!”. Nghe lời mẹ, mấy anh bạn trai cùng làng, cùng lớp ở xã trên ngấp nghé làm quen mà Kim thèm để ý! Bé Thùy hay chọc Kim khi nói với mẹ: “ Bạn chị Kim tối nào cũng đến cả đám, dựng xe đạp làm mấy cây chè tàu nhà mình mọc không nổi mẹ à!”. Sau này khi đã về nhà chồng; có lần hạnh phúc sóng gió, Kim chạy về nhà khóc với mẹ rằng, dứt khoát phải ly hôn vì anh chồng đổ đốn, mải mê cờ bạc, rượu chè chẳng chịu làm ăn, còn thường xuyên đánh chửi vợ con. Nghe xong, mẹ an ủi dỗ dành con gái và khuyên rằng: “ Mèo lành ai nỡ cắt tai, gái ngoan chồng để khoe tài mà chi! Thôi ráng chịu, qua đêm trời lại sáng. Phải tìm cách cảm hóa, nó thấy sai rồi nó sửa. Con bỏ nó, thiên hạ cũng cười mình con à!” Những lời mẹ dạy mà Kim cứ ngỡ như mới hôm qua.
***
- Má ơi! Coi lên thắp hương nhà cậu Tín rồi về để chiều mất!
Tiếng bé Thảo gọi từ trong nhà làm tắt ngang dòng chảy ký ức của Kim.
- Ừ, con lấy cái xách cho má. Nhớ nhắc ngoại uống thuốcđó nghe!
Chờ bé Thảo ra, hai má con dắt nhau đi vô nhà cô Lụa ở xóm giữa làng. Nắng chiều đổ nghiêng. Bóng họ chảy thành vệt dài trên đường. Gió nồm lất phất lay động hàng cau nhà ông nội đang trổ hoa. Tiếng bầy chim sáo lưu vong lãnh lót trên đồi. Giật mình Kim nghĩ: “ Quê ơi! Có lẽ đã bắt đầu những ngọn gió giao mùa!”.
Tháng 10.2011
QUÁN CHIỀU
nghaitrieudl | 04 November, 2011 07:49
QUÁN CHIỀU
Nguyễn Hải Triều
(Gởi em đài các)
Trời chia
vạt nắng
cuối sân
em xanh bên ấy
trắng ngần phía tôi
buồng cau đỏ mắt
đợi người
lơ ngơ thốt
tiếng trái rơi
động hồ…
Hoàng hôn
chậm
giữa hư vô
mà trong đáy mắt
cơ hồ khói sương
Tôi làm cỏ
nhặt
yêu thương
để em mời gió
phả hương cho tình
Em
đừng
viễn xứ
chung chinh
con đường xưa
sẽ một mình
bóng tôi?!...
Tháng 9.2011
TRUYỆN NGẮN CỦA HOÀNG KIM
nghaitrieudl | 26 October, 2011 07:21
Truyện ngắn:
ÔNG GIÀ RỪNG
Hoàng Kim
Khuất sâu trong lũng núi Cô Sơn tự khi nào không biết, mọc lên một túp lều con. Ở đó có một ông già trạc ngoài sáu mươi, sống một mình. Một bữa, Hai Ngàn đi tìm mấy con bò thả rông trong rừng tình cờ phát hiện ra túp lều dựng bên một con suối nhỏ. Tò mò, Hai Ngàn vào thử. Chủ nhân đi vắng, chỉ thấy một ít vật dụng sơ sài. Tất cả từ chỗ nằm cho đến cái bàn đều được làm tạm bợ bằng những cây róng và tre lồ ô là những thứ có sẵn quanh đây. Dụng cụ nấu ăn cái nào cũng nhỏ xíu vừa đủ cho một người, không hơn được. Mở thử cái nồi nhỏ, Hai Ngàn thấy có một ít cơm vẫn còn âm ấm. Chắc chủ nhà cũng ở quanh đây. Hai Ngàn lên tiếng gọi mà chẳng biết gọi bằng gì, bèn lấy tay che miệng ới... lên mấy tiếng.
Chặp lâu, từ phía suối một ông già râu tóc bờm xờm, tay cầm cái rựa xuất hiện. Nhìn cái dáng vẻ ấy, Hai Ngàn bỗng thấy hơi ngán nhưng cũng tự nhủ, sức vóc như mình so với ông già kia thì việc chi mà sợ. Nhưng vừa chộ mặt nhau, Hai Ngàn bỗng tự nhiên có cảm tình ngay. Chà, ông có dáng vẻ của một bậc trí nhân, trông cũng rất nghệ sĩ. Hai Ngàn thấy lúng túng không mở miệng được. Ông già lên tiếng trước:
-Mời cậu vào nhà uống nước. Hai Ngàn biết ông già từ đó.
Tiếng là biết nhau, nhưng ông chẳng hề hé lộ thân phận, cứ mỗi lần Hai Ngàn dò hỏi về ông là ông lảng tránh bằng chỉ một câu:
-Chuyện dài lắm, sẽ có dịp tôi nhờ cậu. Nghĩ ngợi một hồi, ông còn dặn thêm: Cậu về làng đừng kể cho ai việc tôi ở đây, sợ người ta làm phiền.
Ngay cả tên, ông cũng không nói mà bảo với Hai Ngàn: So tuổi thì cậu gọi tôi bằng chú hay bác là được. Biết ông có điều khó nói, Hai Ngàn cũng chẳng hỏi thêm. Từ đó Hai Ngàn gán cho ông biệt danh: Ông già rừng. Năm ba bữa Hai Ngàn vẫn tìm cớ vào thăm xem ông có đau ốm gì không. Có bữa còn lận theo xị rượu và một ít mồi. Hai ông cháu ngồi với nhau, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng. Ông già sống cuộc sống quá kham khổ, sơ sài. Thức ăn hàng ngày thì tự kiếm lấy, được gì ăn nấy, mà trong rừng biết tìm thì cũng không hiếm cái để ăn. Thỉnh thoảng, ông cũng nhờ Hai Ngàn mua giúp ông một ít đồ dùng lặt vặt, lần nào cũng dặn đừng để người ta biết. Hai Ngàn thấy thương ông già thật sự, tuy đôi khi cũng có chút nghi ngại, nhưng gặp ông là mọi ý nghĩ không phải về ông tiêu tan ngay. Người như thế không thể là kẻ xấu được.
Từ đó, Hai Ngàn tự nguyện làm người thăm viếng, giúp đỡ ông. Nhiều lúc ông già cũng bày tỏ nỗi lòng, lẽ đời nhưng tuyệt nhiên chẳng nói gì về mình. Hai Ngàn nghe những lời tâm sự của ông như là những bài học về đạo làm người. Càng ngày Hai Ngàn càng năng đến với ông hơn.
Một bữa, Hai Ngàn vào thăm. Ông không có ở nhà. Hú gọi mãi cũng cũng chẳng thấy động tĩnh gì. Lo lắng, Hai Ngàn lặn lội đi tìm. Rừng núi ở đây Hai Ngàn thuộc như trong lòng bàn tay, thế mà tìm mãi đến tận xế chiều mới thấy ông già nằm tựa vào một bụi cây bên cạnh một khoảnh đất bị đào bới nham nhở. Người ông đang hâm hấp sốt. Giữa rừng núi hoang vu, Hai Ngàn cảm thấy hốt hoảng chưa biết tính sao. Ông chỉ tay vào cái túi xách đang treo trên một cành cây, bảo Hai Ngàn lấy cho ông mấy viên thuốc. Bớt sốt, hai ông cháu trở về căn lều. Đêm ấy, Hai Ngàn ở lại cùng ông và được nghe câu chuyện sau đây:
Cái lũng núi này ngày xưa có thời là một khu căn cứ. Tôi đã sống ở đây chừng bốn năm. Hồi ấy tôi phụ trách công tác văn phòng của một cơ quan lãnh đạo. Nói thật với cậu, tôi cũng có học được đến đệ lục. Lúc bấy giờ, được như thế cũng là của hiếm. Vì vậy, khi thoát ly tham gia công tác tôi được phân công ngay phụ trách bộ phận văn phòng. Nói là bộ phận, thực ra chỉ có ba người: tôi, một cô giao liên và cô cấp dưỡng. Các anh lãnh đạo thì đi công tác thường xuyên, ở nhà chỉ vài người. Công việc tuy chẳng nhiều nhặn gì nhưng khổ nhất là phải đánh vật thường xuyên với chữ nghĩa. Với vốn liếng của mình, những tài liệu lãnh đạo giao cho phải soạn thảo cứ như một thứ đánh đố, nhiều khi thấy bất lực không kham nổi. Tôi đã tính đến cái đường xin được phân công một công tác khác phù hợp với khả năng hơn nhưng rụt rè mãi chưa dám nói ra. Lãnh đạo hình như cũng thấy được điều đó.
Một bữa, có một thanh niên vừa từ vùng địch ra được phân công về chỗ tôi. Cậu ấy là Minh. Minh đang học dở Trung học thì "nhảy núi". Từ ngày về cơ quan, mọi công việc vào tay Minh chỉ một nhoáng là xong. Ban đầu tôi mừng hơn được của. Nhưng rồi chẳng được bao lâu cái khoảng cách giữa mình và cậu ấy cứ dãn dần ra. Có lẽ tại cái tính của cậu ta quá thẳng, đến mức chẳng kiên dè ai. Mình là người phụ trách, về nguyên tắc văn bản soạn thảo xong phải trình qua mình duyệt. Thế mà cậu ta dám bảo: Thôi, anh thò bút vào là hỏng hết của tôi, xem ra anh chẳng thích hợp được với việc này. Nói thế, hoá ra cậu ta muốn gạt mình ra, xem mình như một thứ người thừa?. Thế là không biết tự bao giờ trong lòng mình trỗi dậy cái sự ganh ghét, đố kỵ.
Năm một ngàn chín trăm sáu chín là một năm vô cùng ác liệt. Bọn địch liên tục mở những cuộc càn quét đánh phá vùng giải phóng. Các đường vận chuyển lương thực bị cắt, đi lại rất khó khăn, ang gạo, thùng mắm nhiều khi phải đổi cả sinh mạng của anh em. Mùa mưa. Những cơn mưa rừng lê thê hàng tháng trời không ngớt. Cả vùng rừng Cô Sơn ướt sũng nước, đến các loại củ rừng cũng bị hư thối, kiếm được cái ăn quả là không dễ. Hàng tháng trời bọn mình chỉ ăn rau rừng, cháo loãng, đói đến rã người.
Hôm ấy cơ quan mới được nhận được mấy cân bắp hột. Cái thứ bắp hột chôn giấu dưới đất, bị ẩm nước mưa lâu ngày đã có mùi thật khó chịu nhưng vào lúc ấy nó quý hơn vàng. Cô cấp dưỡng vừa đổ nồi bắp ra, cậu Minh liền xúc ngay một chén ngồi ăn ngon lành, không kịp đợi ai. Thế là cái sự ấm ức lâu ngày của mình có dịp nổ ra. Mình đã mạt sát cậu ta một trận tại chỗ. Cậu ta vẫn kiên trì ngồi nhai trệu trạo chén bắp hột với những giọt nước mắt lăn dài mà không hề nói lại lấy một câu. Vẫn chưa hả giận, cuộc họp chi bộ tháng ấy mình lại lôi cậu ta ra kiểm thảo gay gắt. Mình dùng tất cả những lý luận để nâng quan điểm, quy kết đủ thứ. Nào là: Cái chất tiểu tư sản thành thị chỉ biết nghĩ đến mình, không quan tâm đến người khác; nào là: đồng chí ăn no và sống một mình, để anh em chết đói hết chăng? Cuộc kháng chiến còn lâu dài gian khổ, một mình đồng chí sống có đủ làm nên thắng lợi? Tệ hơn nữa, mình đã quy kết Minh về với cái bản năng sinh tồn của con vật không có tính văn hóa Người. Minh ngồi rúm ró ở một góc, bị phán xét như một tội đồ. Rồi cậu ta bật khóc hu hu như một đứa trẻ con bị cha mẹ quát mắng. Tan họp, cậu ta về lán, trùm chăn kín đầu, không buồn ăn uống mất mấy ngày.
Sau đó lại có một chuyện động trời xảy ra: cô cấp dưỡng bị phát hiện là đang có thai. Cái thai đã ngoài bốn tháng rồi. Chi bộ lại phải họp để giải quyết. Không ngờ, thủ phạm lại chính là cái cậu Minh ấy. Trước cuộc họp, cậu ta thẳng thắn nhận. Cậu ta còn nhân danh tình yêu và trách nhiệm, tự bào chữa là mình không khuyết điểm gì trong việc này: Tôi chưa vợ, cô ấy chưa chồng. Chúng tôi yêu nhau và tự quyết định với nhau, không can gì đến ai mà phải giải quyết, không dám phiền lòng đến các đồng chí khác. Cái lý lẽ ấy bây giờ thì đúng, nhưng hồi ấy là không chấp nhận được. Bắt đầu yêu nhau thì phải báo cáo và phải được tổ chức đồng ý. Chưa được đồng ý mà ăn cơm trước kẻng là một trọng tội. Cái thái độ ngang bướng của cậu ta đã đổ thêm dầu vào cơn bực tức của mình và các đồng chí khác, dẫn đến cái kết luận: kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng.
Từ đó, Minh thu mình lại, không giao tiếp với ai, không nói, không cười, không phát biểu trong các cuộc họp cơ quan, tới bữa ăn cũng cắm cúi một mình. Cái thái độ ấy được mọi người nhìn nhận là một thứ tư tưởng tiêu cực, cần được đề phòng. Mình được phân công theo dõi cậu ta. Trong đầu óc mình lúc ấy, mọi việc làm, cử chỉ của cậu ta đều phản ánh cái tiêu cực, lạc hậu và phản kháng. Không thể để một người như thế ở trong một cơ quan lãnh đạo đầu não, các anh lãnh đạo quyết định đưa cậu ta ra bộ phận sản xuất, vẫn trực thuộc cơ quan nhưng ở cách đó vài quãng đường rừng.
Minh kiên quyết xin vào các đơn vị chiến đấu nhưng không được chấp thuận. Cậu ta lẳng lặng về đội sản xuất, không chào hỏi ai. Cho tới tận bây giờ, mình cũng không thể nào quên được ánh mắt cậu ta nhìn mình hôm ấy. Ánh mắt nửa như giận hờn trách móc, nửa như cam chịu, nhẫn nhục và cả như muốn nhắn nhủ điều gì khó nói. Về đơn vị sản xuất, cậu ta hì hục làm bất kể nắng mưa, như là để quên mọi chuyện hoặc giả như là để tự hủy hoại mình. Mới mấy tháng mà trông cậu ta gầy rộc hẵn đi, già sọm xuống không còn một dấu tích gì của ngày mới đến.
Một bữa, địch đột nhiên tập kích. Mới sáng sớm, năm chiếc máy bay từ hướng Đà Nẵng ùn ùn kéo đến, quần đảo náo cả vùng bìa rừng. Cơ quan được lệnh sơ tán, rút sâu hơn vào trong núi. Ở đó, có một cái hang có thể trú ẩn an toàn trong nhiều ngày. Đội sản xuất cũng được lệnh sơ tán theo. Thế nhưng vào đến nơi không ai tìm thấy Minh đâu cả. Mọi người đều nghi ngờ rằng cậu ta cố tình trốn lại, chờ địch đến để đầu hàng. Cái thái độ bất mãn của cậu ta sau vụ kỷ luật vừa rồi là rất đáng ngờ. Cái hang núi này, Minh đã từng biết đến. Chính cậu ta đã nhiều lần mang lương thực sản xuất được vào cất giấu, dự trữ tại đây. Tình thế thật là cấp bách. Địch đã bắt đầu đổ quân.
Mình được phân công trở lại tìm Minh. Mình men theo con đường tắt lội ngược trở ra. Tiếng súng đã rất gần, hình như bọn địch đang lùng sục ngay chỗ cơ quan vừa sơ tán. Chẳng giấu gì cậu, tính mình vốn nhát, đi tham gia kháng chiến nhưng chưa một lần chạm địch, chưa hề bắn một viên đạn nào. Quanh năm suốt tháng cũng chỉ quanh quẩn ở cơ quan. Thỉnh thoảng, được đi công tác với các anh lãnh đạo đều được bảo vệ chu đáo, an toàn. Nghe tiếng súng quá gần mình cảm thấy chột dạ, muốn quay trở lại nhưng trở về thì biết ăn nói thế nào? Mình cố hết sức men tới nấp sau một tảng đá lớn. Tiếng súng mỗi lúc một gần. Thấp thoáng sau vạt rừng, mình thấy bóng Minh vừa bắn trả vừa di chuyển về phía con suối. Rõ ràng là cậu ta muốn nhử địch về phía Đầm hoang dưới kia, tránh xa hướng di chuyển của anh em cơ quan. Bọn địch vẫn ào ạt xông tới. Giá như khi ấy mình có thể bắn một vài viên chi viện, ít nhất cũng cầm chân chúng được ít nhiều cho Minh chạy thoát. Nhưng lúc ấy tay chân mình trở nên tê dại, không nhấc lên nổi. Chợt mình thấy Minh bị thương hay bị vấp ngã chi đó thấy dúi dụi, không gượng dậy nổi. Bọn địch ào tới vây quanh. Rồi một tiếng nổ kinh hoàng ở ngay chỗ cái đám đông ấy. Thôi rồi, có lẽ Minh đã bung lựu đạn. Khiếp hãi, mình đã vừa bò vừa chạy. Chẳng biết ma xui, quỷ khiến thế nào, mình đã làm một việc đáng xấu hổ. Mình đã báo cáo là không tìm thấy Minh đâu.
Giọng ông chùng xuống chỉ còn nghe như tiếng gió thoảng, mơ hồ như tiếng vọng về từ một cõi nào. Môi ông run run, da mặt sạm tái, phút chốc trông ông như già thêm hàng chục tuổi. Hai Ngàn qườ tay lấy cho ông một ly nước và cũng định nói đỡ cho ông vài lời, nhưng ông già đã giơ tay ngăn lại.
Sau đó ít lâu, mình bị thương được đưa ra Bắc an dưỡng và học tập cho đến ngày giải phóng.
Chuyện cũ tưởng đã quên đi được, nhưng từ hôm tình cờ gặp lại bà Hương, cái cô cấp dưỡng đã có thai với cậu Minh ngày trước ấy, mình luôn bị dằn vặt bởi cái tội lỗi không thể nào chuộc nổi. Hằng đêm, trong giấc ngủ hình ảnh của Minh cứ hiện về, với ánh mắt của hôm cậu ta nhìn mình trước khi về đội sản xuất. Ánh mắt ấy cứ xoáy sâu vào tận tâm can mình, như muốn chất vấn, như muốn đòi hỏi một món nợ cần phải trả.
- Mình tệ hại, xấu xa quá phải không? Chính cái sự ganh ghét, đố kỵ của mình đã vùi dập một con người,Mình đã đẩy Minh vào chỗ chết.
Cậu ấy đã nằm lại tại đây từ bấy đến chừ. Ông già bật khóc hu hu.
Đêm vắng lặng đến rợn người. Tiếng ếch đá cứ kêu choách, choách càng làm cho khu rừng thêm cô quạnh. Chẳng ai nói với ai một lời nào nữa. Hai Ngàn bỗng quờ tay ôm lấy ông. Chiếc đèn dầu soi bóng hai ông cháu chập chờn, lờ mờ trên vách nứa.
H.K.
CHUYỆN XƯA
nghaitrieudl | 21 October, 2011 08:03
CHUYỆN XƯA
Nguyễn Hải Triều
Chạm vào ký ức thành tên
Chuyện xưa ngày đã hoá nên cuộc nào
Ngược sông về gặp chiêm bao
Nợ nần chi nữa giấu vào đa mang
Câu thơ gởi cánh chim ngàn
Yêu thương khéo bọc ngổn ngang tình đời
Hôm em về phía… người ơi
Cái ngày con sáo hát lời sang sông
Thuyền trôi ủ sóng bềnh bồng
Nghìn xa sau những ấm nồng câu vui
Từ tạ em một ngậm ngùi
Tạ từ nhau mặn lạt thời ngây thơ
Con đường mờ dấu chân trưa
Cỏ hoang ngập lối cũng vừa xa xăm
Hẹn hò cùng với tháng năm
Em thành cổ tích bóng tăm mịt mờ
Chiều nay trở lại lối xưa
Tiếng chim xưa
mảnh vườn xưa …
một mình…
THƠ HUỲNH MINH TÂM
nghaitrieudl | 17 October, 2011 08:29
TỰ DO VÀ THƠ
(Trong Phần I : bài ca của biển, ở trường ca 1)
Huỳnh Minh Tâm
Có lúc tôi nghĩ :
Tự do là cha, thơ là mẹ
Không có mẹ cha tôi không sống được bao giờ
Tự do là cuộc sống của tôi, là khát vọng của tôi, là phần tôi định đoạt
Thơ là cuộc sống của tôi, là khát vọng của tôi, là phần trời phú cho
Tôi định đoạt sự tự do của tôi bằng đấu tranh và niềm tin tất thắng
Trời phú cho tôi một bầu cảm xúc, một bầu thơ, một biển đam mê
Cha bảo: Con hãy sống nghĩa là tự do, đó là niềm hạnh phúc lớn nhất !
Mẹ bảo: con hãy sống, nghĩa là thơ, dâng cho mẹ, cho người !
Lòng bảo: Mày phải sống cho sự tự do và thơ ca, đó là niềm vinh quang !
Có lúc tôi đã hiểu như thế và sống như thế
Có lúc tôi đã hiểu như thế và không sống như thế
Vì điều kia không dễ
Lúc chúng ta xông vào.
+
Có lúc tôi nghĩ:
Tự do là trời, thơ là đất
Không có sự cao hơn, không có sự thấp hơn
Dẫu có sự bao la và trừu tượng
Những khoảng xanh và sự bạc màu
Tôi là cánh chim
Bay trong trời và tìm đất đậu
Hát cho trời và đất
Cho niềm vui và nỗi cực nhọc
Cho miếng cơm ngon và lát sắn dày
Cho đời thường và cả ước mơ
Có lúc tôi không hiểu như thế và sống như thế
Có lúc tôi không hiểu như thế và không sống như thế
Vì điều kia không dễ
Lúc chúng ta yên bình
+
Có lúc tôi nghĩ:
Tự do là tôi, thơ là tình yêu của tôi
Thiếu tôi-vô nghĩa
Thiếu tình yêu, tôi là bóng quỷ bóng ma
Hai mặt của một cuộc đời không phủ định, không nhường chỗ
Hai cuộc sống của một trái im
Có lúc tôi hiểu như thế và sống như thế
Có lúc tôi hiểu như thế và mong sống như thế
Tự do và thơ
Tôi và em
Một mà hai, hai mà một
Đi mãi trên đời không gấm vóc, không trễ nải
Không ồn ào, không sợ hãi
Là ngọn lửa, dòng sông bình dị tự hôm nào....
EM KHÔNG PHẢI CHIM DI
nghaitrieudl | 30 September, 2011 15:44
EM KHÔNG PHẢI CHIM DI
Nguyễn Hải Triều
(Gởi em Đài các)
Khi trời đất bắt đầu mùa yêu
Em nỏn nà sương sớm!
Những bàn tay thô ráp mưa đông
Không còn lẳng lơ trước nụ xuân hồng…
Tôi gặp giấc trăm năm Thúc Sinh
Bóng nàng Kiều bên gương đồng chải tóc
Hóa thân em bụi trần
Cuốn đời tôi vào cơn lốc!
Ngày ấy chớm Giêng gió trăng cũng ngọt
Nắng vàng ươm mỗi sáng đi về
Câu thơ phập phồng phả vào tôi hơi thở
Em phân trần non tơ mùa xuân…
Người về từ cuộc hành hương mê cung
Niềm vui nỗi đau hạnh phúc gian dối
Nụ cười em hình như đã tượng đài
Tôi say những giọt rượu thánh thiện và tội lỗi!
Tôi luôn gặp ký ức rời rạc chớp giông
Về đụn mây dự báo cơn gió
Có thể là sự thật hay mộng tưởng tô vẽ
Nhưng niềm tin vạn lần em không phải chim di.
Em đấy từ độ tình trong nắng ấm xuân thì
Sẽ mai sau những mùa mây trắng
Gió có còn thơm nắng có còn hồng?
Khúc giao mùa tôi hát gởi mênh mông…
Tháng 9.2011
THƠ HUỲNH MINH TÂM
nghaitrieudl | 26 September, 2011 14:32
GIAO MÙA
Huỳnh Minh Tâm
tôi có vài điều muốn thổ lộ với em
còn vài điều ấm ức
và một điều tâm đắc
con chim trên cành hót ngẩn ngơ
hoa hồng rưng rưng giọt nắng
vạt cúc đã vàng chiếc áo thời gian
thơm tuổi ấu thơ
không có điều gì nói cùng em
đèn đom đóm giấc mơ tháng chạp
xuân nở trong lời hoa tay lạnh
bầy lá bay đi ai về cho kịp rét
một khoảng trời cao lòng anh biếc biếc
dòng sông chảy thâu đêm em có chảy không em
quê nhà hạt đậu mơ mùa cơm nếp
QUÊ NỘI
nghaitrieudl | 19 September, 2011 09:41
QUÊ NỘI
NguyễnHải Triều
Đường cày xoắn vòng úp mặt suy tư
Đất bệ tháng ba cơm áo
Nứt nẻ mùa màng ngực cha đón bão
Ruộng quê nhuốm phèn gió thở phía trăng lên
Cha thân phận cánh đồng rơm rạ
Gồng gánh sông sâu nắng gió bãi cồn
Quê nội bốn mùa bàn chân cỏ lách
Khói lấm bùn sông gội cả hoàng hôn
Đường làng hắt hiu chân vạc
Cha gánh lo toan đi giữa cuộc đời
Rồi một bữa gập ghềnh sương thu và gió
Sông quê mình đâu chỉ phù sa trôi
Ngày mẹ về với cô đơn và sóng
Va đập nỗi đau biển lận thác gào
Quê nội buồn thiu trăn trở
Lũ trẻ chăn bò ngơ ngác đồng dao
Mấy mươi năm sim chín Bằng Sim
Cỏ ướt mưa giăng mắt ngút
Con cá rô quẫy mùa nước lụt
Lượm trái ầu ơ... chim nhớ bãi đồng
Quê nội chiều
ai hát
ở bên sông...
N.H.T.
THƠ VIẾT GỞI CON TRAI
nghaitrieudl | 14 September, 2011 07:28
THƠ VIẾT CHO CON TRAI
Nguyễn Hải Triều
Dễ chi đâu nơi trời mây lạ
Mịt mùng xa lắc phương Nam
Ngoảnh bước đi về dùng dằng cố xứ
Bỏ lại mình con rong ruổi đất Sài Gòn…
Dễ chi đâu năm lần bảy lửa
Khi đường đời vạn nẻo gai chông
Ai đo được lòng người sâu hiểm?
Mà gót chân non phải dập bước phong trần
Kể chuyện tháng ngày đời ba phiêu bạt
Mang lời ru quê gội nắng xứ người
Đêm xưa vịn nhánh cau vàng trổ lá
Đất mẹ tiễn đưa vầng trăng khuyết cuối trời…
Sương phủ miền đời ba chải tóc
Trăm mùa đi mơ mây trổ xuân tươi
Cứ nghĩ lấy mình ra ví dụ
Để dạy cho con bài học làm người
Một đời ba cố vốc ước vọng nhỏ nhoi
Điều giản đơn chảy qua lòng tay như nước
Giọt giọt yêu thương thấm dần vào đất
Mơ mọc lên những đóa hoa hồng…
Trở về cho con học cách lớn khôn
Khi bắt đầu những mùa gieo hạt
Gió thốc tháng năm cuốn đời ba đìu hiu
Một mình đuổi bắt ước mơ về phía trời chiều
Hãy học cách làm người chân chính
Yêu thương từ trái tim mình
Ghét dối gian và đi bằng đôi chân mình có
Như bước phong trần ba từng đi.
Có thể ngày mai mỗi lớn khôn hơn
Giấc mơ của ba phía hoàng hôn đã tắt
(Cuộc rượt đuổi đời ai cũng về cuối đất)
Để cõi nhân sinh con có được hoa hồng…
Tháng 9.2011
VỚI CUỘC CHƠI THƠ...
nghaitrieudl | 08 August, 2011 08:24
Nhà thơ nguyễn Hải Triều:
với cuộc chơi thơ…
Kể từ tập thơ “Rơm rạ mùa” (2007), đến nay vẫn chưa thấy Hải Triều ra mắt bạn đọc tập tiếp theo. Anh lại giỡn như thật:
|
|
- Tôi đùa với một vị lãnh đạo làm thơ, rằng làm lãnh đạo mà không làm thơ là dở, vì làm ra là có người đứng xin in liền, xúm lại bình tứ tung rồi tái bản, góp tiền để in, lời lãi biết bao nhiêu! Có đâu như tôi nghèo rớt mồng tơi, in thơ về xin tiền vợ, mà vợ lại thất nghiệp.
- Vậy anh lấy tiền đâu để in thơ?
- Từ kịch bản sân khấu dân ca. Mình lấy sân khấu nuôi thơ, viết kịch bản thuê cho thiên hạ. Bạn bè hỏi sao lâu nay ít làm thơ? Biết làm sao, hãy tìm bánh mì ăn rồi mới tôn vinh hoa hồng. Tôi làm thơ để giãi bày, để yêu thương, chứ không phải để nổi tiếng.
- Viết kịch bản sân khấu quần chúng cũng đem lại tiếng tăm cho cái tên Hải Triều. Đội ngũ này xem ra càng ngày càng ít…
- Ừ, không đông đâu. Cũng có người bỏ nó vì chán, vì tắc tị, chỉ còn lại một số anh em đã rành nghề như Lê Trung Thùy, Nguyễn Công Toản, Phạm Phú Sương.
- Chán nghề vì cụt vốn chỉ là một nguyên nhân…
- Cơ quan chủ quản không quan tâm, chỉ động viên chiếu lệ vài câu chứ hành động cụ thể thì không có. Tôi nghĩ mai này dân ca sẽ không còn người hát, biểu diễn. Lớp diễn viên hiện nay thì đã già. Nói theo kiểu tộc họ là sẽ tuyệt tự. Mới đây Huỳnh Minh Tâm nói với tôi, nghe ra cũng có lý: Mai này sẽ không còn thơ nữa, bởi đang có những đứa trẻ không biết gì về rơm rạ, khói đốt đồng, biền bãi. Điều quan trọng của dân ca là từ lòng người, cộng đồng rồi phát hiện, sưu tầm, bảo lưu nó. Có những vùng đất người ta mê dân ca đến lạ, sẵn sàng bỏ tiền thuê Đoàn ca kịch Quảng Nam về hát như xã Đại Cường (Đại Lộc), nhưng lớp người mê đó cũng đã mất đi nhiều rồi.
|
|
- Anh viết kịch bản dân ca có áp lực nhiều không?
- Quá nhiều. Ngày xưa mình viết cho đã đời, thì nay là viết để dựng theo đơn đặt hàng, theo kiểu đo ni đóng giày, rồi lệ thuộc vào diễn viên, tài năng họ đến đâu mình viết đến đó, lại nữa là tùy thuộc vào lãnh đạo, các vị thích thế nào thì mình dựng thế đó. Tất cả những điều đó cho thấy dân ca còn đất sống hay không và sẽ sống thọ ra sao…
- Nó như nghề tay trái à?
- Ừ, nhưng cũng không đúng, trong nghệ thuật thì cái gì cũng như nhau, không máu thịt yêu thương thật sự thì chẳng làm gì nên hồn. Dân ca suy cho cùng đi ra từ thơ lục bát.
- Anh nghĩ gì về đổi mới thơ và sáng tác theo bản năng?
|
Nguyễn Hải Triều sinh năm 1958, quê quán Đại Lãnh (Đại Lộc), hội viên Hội VHNT Quảng Nam. |
- Người viết không đọc nhiều thì không viết hay được. Theo mình đổi mới không phải là khác cái cũ. Tiêu chí đầu tiên của thơ là tồn tại, là yêu thương và người đọc thấy cuộc đời họ trong đó. Có những bài thơ sau này được gọi là đổi mới, đọc cả trăm lần mà không thể thuộc lòng được. Đổi mới là hay hơn cái cũ, nhưng nếu không được cộng đồng cảm nhận thì thất bại. Tôi cũng như nhiều người cố gắng làm khác đi, nhưng phải phù hợp và đi vào lòng người. Với tôi, không có thơ hay - dở, chỉ có thích hoặc không thích mà thôi. Có nhiều bài của Đỗ Thượng Thế, Huỳnh Minh Tâm, tôi đọc không hiểu nhưng… lại thích.
- Về mặc cảm của người sáng tác ở cơ sở, anh có không?
- Thơ có đẳng cấp, nhưng nằm ở tác phẩm chứ không phải ở người sáng tác đang ở đâu.
- Xem ra anh không nặng nề chuyện vai trò lẫn danh phận nhà thơ?
- Tôi quan niệm đời là một cuộc chơi, không nặng nề chuyện gì cả, nhưng phải sống chết vì nó.
- Một bạn viết có ý kiến rằng Hải Triều nên tập trung cho sân khấu dân ca hơn là làm thơ in sách…
- Với tôi mọi điều như nhau cả. Tôi không làm như người ta nói đâu, thích gì thì làm nấy thôi. Sắp tới tôi sẽ vẽ sơn dầu vài chục bức, mở phòng tranh chơi.
- Tóm lại là tất cả cũng để cho vui?
- Ừ, sống như viết, chẳng có chi danh giá, tiếng tăm cả. Tôi sinh ra để chơi, chơi tầm đó thôi, mai mốt rồi cũng hết mà. “Ngày kia về lại cội nguồn/ Vài câu lục bát đi cùng với trăng”.
Nói xong anh phóng xe đi. Tôi nhìn theo. Chiếc xe cub 79 cũ kỹ. Hình như đời xe đó bây giờ cũng hiếm rồi…
NGUYỄN HẢI TRIỀU
Khói
Những sợi khói nấp sau giấc mơ
bay dọc cánh đồng ký ức
sợi khói lấm lem
thơm mùi rơm khô cỏ mục
em ra đồng bàn chân xước gió lá non …
Ruộng bãi chiêm bao
loanh quanh thả sợi nắng vàng
xa xăm em với ngày xưa cũ
cha gánh nhọc nhằn lội qua mưa
bão
mẹ gieo ngọt ngào
tìm mùa ngậm sữa chờ sương.
Bến có đợi người
ai nợ mấy mùa trăng?
nỗi nhớ còn không
những chú trâu già tuổi buồn như
đất?
ngày mùa đi khuất theo bụi cát
để tôi tìm về gọi em chim sẻ chim
sâu!…
Tiếng nghé ơ… cọ mây gió bạc đầu
khói rạ đồng chiều lơ ngơ cò trắng
bay qua mùa tôi qua tận cùng năm
tháng
cay mắt xa xăm
mỏi ngày
đợi chín giấc mơ quê!
Hương mùa
(Gửi em đài các)
Em gọi là tình yêu
Khi nhìn những sợi nắng
cởi trần tắm gió
Mỏng mảnh mai sương
Tan vào hương đồng nội cỏ.
Không gian chỉ còn là vô thanh
Hiện hữu em
và sắc màu lá non chồi biếc
Thoảng nghe gió lùa buổi sớm
Tiếng mưa ươm mọng hương mùa.
Hừng đông đọng vào giấc mơ
Em chắt chiu gieo mầm
lúa thơm trở hạt
Nụ cười xuân thì trổ đòng trăng mật
Dòng sông lở bồi chảy khúc hoan ca
Lối mòn đồi tranh khuất nẻo mờ xa
Khi tôi hái câu thơ
tím mùa sim chín
Lưng chừng cỏ dại mây ngàn
Ngẩn ngơ chiều nắng đổ ngày
hoang…
Thức cùng giọt sương trong ngần
Gởi hộ tháng năm
cất chưng kỷ niệm
Từ nơi em tím nỗi nhớ hoa tím chiều
tím
Có một tình yêu !
N.H.T
LÊ TRUNG VIỆT (thực hiện)
CHUYỆN VỀ NGƯỜI ẨN SĨ
nghaitrieudl | 02 August, 2011 08:34
CHUYỆN VỀ NGƯỜI ẨN SĨ
Ghi chép của Nguyễn Hải Triều
Nằm trên đỉnh của dải núi Bằng Am-Bàn Cờ, ở độ cao so với mực nước biển từ 700-800m, khu du lịch Bằng Am có mặt bằng quy hoạch rộng trên 380 ha, thuộc địa phận thôn Phước Lâm và thôn Hòa Hữu xã Đại Hồng, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Dưới chân núi Bằng Am có tuyến quốc lộ 14B đi qua khu du lịch Khe Lim, cách trung tâm huyện 23km, cách thành phố Đà Nẵng 45km về phía Tây Nam, cách Hội An 46 km về phía Tây.
Bằng Am được quy hoạch để phát triển thành khu du lịch sinh thái - văn hóa tổng hợp tầm cỡ lớn. Kêu gọi nhiều doanh nghiệp và các tổ chức đầu tư vào những hạn mục công trình như: Sân gôn, nghỉ dưỡng cấp cao, leo núi, cáp treo, dù lượn, khách sạn, nhà vườn, biệt thự, hồ bơi…và các dịch vụ vui chơi giải trí khác để phục vụ khách thập phương. Sở dĩ có tên Bằng Am vì tại đây hơn một trăm năm trước là nơi ẩn cư của một chí sĩ yêu nước thời Cần Vương, và những giai thoại dân gian kể về ông quả là một câu chuyện dài ly kỳ…
* CHUYỆN VỀ NGƯỜI ẨN SĨ…
Ông tên thật là Bùi Ngọc Châu, đạo hiệu Thiền Định, sinh năm Kỷ Mão triều Gia Long; quê làng Bát Vọng, phủ Thừa Thiên. Làm quan ở Phủ Nội vụ thuộc Bộ Công, triều vua Tự Đức. Được vua cử theo phái bộ Nguyễn Thành Ý sang Pháp nghiên cứu công nghệ máy móc Tây dương nhằm khi về nước lo việc canh tân, mở mang công nghệ nước nhà. Thời gian ở Pháp, nhờ có tư chất thông minh, khéo tay sáng dạ, ông đã nghiên cứu học tập được cách chế tạo nhiều loại máy móc tân kỳ của người Âu thời bấy giờ nên người ta thường gọi ông là “ chú Sáu Máy”. Đất nước đang thời kỳ bị giặc Pháp xâm lược, triều đình nhu nhược, vua nghe lời nịnh thần chủ hòa cắt dần giang sơn cho giặc. Chán cảnh quan trường nô lệ, không thi thố được chí lớn nên ông rủ áo từ quan, từ biệt quê nhà , vai gánh đôi bầu hành lý tùy thân, trong đó có bộ Triều phục của mình, cất bước Nam du qua đèo Hải Vân với ý nguyện gặp gỡ, tập hợp những bạn bè, đồng chí, đồng liêu mưu cầu đại sự, tìm con đường diệt thù cứu nước. Khi vào đến Hà Nha-Đại Đồng, tá túc tại chùa Cổ Lâm, ông gặp gỡ và kết giao cùng thiền sư Quản Thạch, Bốn Kế, Ông Thị Thất Sơn, Trình Hiền Đỗ Đăng Tuyển…những yếu nhân của phong trào Nghĩa hội Quảng Nam sau thất bại năm 1886 cũng đang ẩn mình qua lại nơi đây chờ thời cơ mới(*).
Sau sự cố chùa Cổ Lâm bị tên tri huyện Phạm Ngọc Lãng ra lệnh đốt phá vào năm 1897 vì hắn nghi ngờ trong chùa có người làm “quốc sự”. Sư cụ trụ trì và bà vải phải tự thiêu, những người trú ngụ trong chùa đành lưu tán tứ xứ, kẻ vào Nam, người ra Bắc. Riêng thầy trò ông Sáu Máy và Bốn Kế, lúc nầy đã là tăng nhân với pháp danh là Hoằng Nhẫn và Hoằng Cam thì lánh cư tu ẩn tại vùng núi Hữu Trinh-Hòa Hữu (Bằng Am ngày nay).
Những ngày đầu tiên đến vùng rừng núi hoang vu, là nơi “con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kinh”, nhưng với phong cảnh hữu tình, vẻ cô liêu tịch mịch, mây lượn lững lờ, núi non kỳ vĩ, rừng thông xanh cao vút hòa quyện theo khói lam chiều, xa xa dòng sông như dải lụa xanh trôi xuôi, tạo nên bức tranh sơn thủy hợp với lòng người quy ẩn. Thầy trò ông chọn một chiếc hang đá tự nhiên dưới rừng thông, bên suối nước chảy róc rách làm nơi trú ngụ. Cũng bởi từ đặc điểm nơi ở, nên người dân quanh vùng kính cẩn gọi ông là Đức Tùng Sơn.
Từ đó, thầy trò đức Tùng Sơn tháng ngày chuyên tâm đọc sách thánh hiền, nghiên cứu kinh kệ Phật pháp. Thường xuyên giao du với các danh sĩ trong vùng như cử nhân Lương Thúc Kỳ, chưởng ấn Nguyễn Văn Quỳ cùng các bậc tú, cử, nho, y… danh tiếng khác. Ông còn nấu thuốc luyện đơn chữa bệnh cho dân nghèo vùng chín xã Sông Con, cứu giúp kẻ cô thế nên được người dân quanh vùng tôn vinh như bậc tiên thánh. Uy tín, tài năng và đức độ của thầy Tùng Sơn ngày một bay xa khiến bọn quan lại Nam triều, tay sai của thực dân Pháp bắt đầu để ý nghi ngờ, dòm ngó .
Quanh các làng Hữu Trinh, Hòa Hữu, Phước Lâm thuộc xã Đại Hồng, hay tận vùng bờ bắc sông Vu Gia như Hà Tân, Đại An, Hà Dục…còn lưu truyền trong dân gian nhiều chuyện ly kỳ về tài năng võ nghệ của thầy Sáu Máy. Một lần sau khi bốc thuốc chữa bệnh cho bà con dưới làng Hữu Trinh, trên đường trở về am ông gặp một con cọp hung dữ xông ra chặn đường. Ông từng nghe kể con cọp nầy từng bắt trâu bò của dân và đã giết nhiều người. Trong tay không tấc sắt nhưng chỉ bằng chiếc khăn quấn cổ và vốn võ nghệ của mình, qua vài đường quyền, ông đã quật ngã con hổ dữ và làm cho nó đau đớn, hốt hoảng chạy biến vào rừng, từ đó không còn dám ra quấy nhiễu dân làng nữa.
Từ lời đồn thổi trong nhân dân về tài nghệ và việc làm của thầy Tùng Sơn, tên Quản Sơn chỉ huy đồn An Điềm nghi ngờ ông đang hoạt động “quốc sự” nên sai lính đến vây bắt giải về phủ Điện Bàn để tâng công. Vừa gặp ông, nó trợn mắt, tay tóm cổ áo rồi quát: “Mày định làm quốc sự à?”. Nhanh như cắt, bằng một động tác võ nghệ điêu luyện, người ta chỉ nghe Quản Sơn la lên một tiếng rồi đổ kềnh ra đất trước bao con mắt ngạc nhiên và thán phục của nhiều người. Lần ấy, ông theo lính về phủ Điện Bàn, gặp Lãnh binh Đình Điềm là người quen cũ bảo lãnh nên được tự do. Tên Quản Sơn bị quở trách là quấy rối người ẩn sĩ.
Cuối mùa Xuân năm Thành Thái thứ I (1900), buổi sáng thầy Tùng Sơn xuống làng gặp người đệ tử của mình là thầy Bốn Kế ( cháu gọi cụ Nguyễn Duy Hiệu bằng chú ruột) dặn rằng: “ Khi nào thấy cửa động có khói là ta đã tịch. Con nhờ mọi người lên đậy giúp nắp thạch quan cho ta!”. Đêm ấy vào tiết Trung nguyên, trăng sáng vằng vặc. Dân chúng nhìn lên phía Am Thông thấy một vầng khói quyện lờ mờ thì biết là thầy Tùng Sơn đã an nhiên nhập định. Sáng hôm sau, dân làng kéo lên Am thực hiện lời di huấn của thầy thì thấy mối đã đùn lấp kín miệng hang thạch táng nơi thầy tịch diệt. Trong Am còn để lại bài kệ:
Tịch cốc đăng tiên lộ
Tùng Sơn cổ thất tằng
Trường sanh đơn khả tín
Bất lão bạch văn tăng.
Và bài thơ: CẢNH THẾ
Chài danh câu lợi ủa mà chi
Lợt lạt mùi thiền họa có khi
Khe hạc sóng yên miền tế độ
Non tùng bia tạc đá còn ghi
Tòa sen phất phất đưa hương nhẹ
Áo tuyết phau phau chút bụi gì
Ngoảnh lại Hoàng Châu thương những kẻ
Khối trần đẽo mấy cũng còn y(*).
Và cho đến ngày nay, những câu chuyện về người ẩn sĩ trên núi Bằng Am hơn một trăm năm trước vẫn còn lưu truyền trong dân gian như một huyền tích đầy tính nhân văn kể về vùng đất, con người đã có một bề dày truyền thống văn hóa - lịch sử.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, Bằng Am là căn cứ của Cách mạng, nơi trú ẩn của các chiến sĩ giải phóng. Trong chiến dịch Thượng Đức, tại đây là trận địa pháo bắn thẳng vào cứ điểm của quân thù. Do phải hứng chịu nhiều đợt bom rải thảm của máy bay B52. Hàng ngàn cây thông cổ thụ bị đốn ngã, rất nhiều hang động bị phá tung nhưng cho đến nay, Bằng Am vẫn con giữ được vẽ đẹp hoang sơ, hùng vĩ vốn có của nó như đã được thiên nhiên ban tặng.
* ĐẾN VIỆC ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KHU DU LỊCH…
Bằng Am thuộc xã Đại Hồng huyện Đại Lộc, hiện tại có mặt bằng được quy hoạch thành khu du lịch rộng trên 380ha, dạng lòng chảo trảng bằng phẳng. Có 4 con suối ( suối Lim, suối Hóc, suối Hung, suối Nước Đỏ) quanh năm triền miên nước chảy cắt ngang qua địa hình tạo thành những thác nước kỳ vĩ. Nơi đây còn có nhiều cây dầu chuổi. Những thảm cỏ xanh mượt như nhung trải dài đến tận chân mây. Cát và đá cuội trông giống những viên bi trắng phau lung linh rải rác dọc các triền suối. Đây đó vươn lên nhiều cây thông cổ thụ rêu phong với những đàn cò trắng thường bay về làm tổ. Xa xa là rừng xanh trùng điệp nguyên sinh lặng lẽ, đồi núi nhấp nhô và mây trời bồng bềnh phủ lượn. Khi nhìn xuống, xa xa làng mạc tỏa khói lam chiều bên dòng sông Vu Gia xanh lờ mờ như một bức tranh phong cảnh hữu tình. Có di tích Am Thông, nơi ngài Tùng Sơn quy ẩn với nhiều câu chuyện truyền miệng, nhiều truyền thuyết, giai thoại hấp dẫn, lý thú mang đậm tính văn hóa dân gian. Bằng Am ở độ cao 830 mét so với mặt nước biển; nhiệt độ thấp hơn đồng bằng từ 8 đến 10oC. Không khí mát mẻ trong lành, hương rừng mơn man làm cho ta có cảm giác thú vị, khoan khoái, … phù hợp làm nơi nghỉ dưỡng, vui chơi, giải trí, du lịch… với nhiều hạn mục công trình mang tầm vóc quy mô cấp quốc gia.
Hiện nay có Công ty Cổ phần Quảng Cường xin quy hoạch đầu tư hạ tầng với số vốn đăng ký lên đến 1250 tỷ đồng Việt Nam. Với triển vọng hình thành một địa điểm du lịch sinh thái lý tưởng nằm trong quần thể các điểm du lịch nổi tiếng của Quảng nam và Đà Nẵng. Bằng Am cần được sự chú ý đầu tư nhiều hơn nữa của các tổ chức kinh tế tập thể, cá nhân cho sự nghiệp phát triển của ngành du lịch huyện Đại Lộc trong những năm đến.
N.H.T.
(*) Tư liệu từ bài viết của Nhân Thiện Chí – Văn nghệ Đại Lộc Xuân 2007.
BÀI VIẾT HUỲNH MINH TÂM
nghaitrieudl | 22 July, 2011 07:53
ĐI THI CÙNG CON- BÚT PHÁP GIẢN DỊ TRUYỀN THỐNG
VÀ MÔNG LUNG HIỆN ĐẠI
Huỳnh Minh Tâm
GV trường THPT Huỳnh Ngọc Huệ Đại Lộc, Quảng Nam
Đọc nhan đề bài thơ “ Đi thi cùng con” rõ ràng, minh bạch quá, dễ làm
bạn đọc liên tưởng một bài thơ dễ dãi, “ xoàng”, hoặc sắp nghe một
chuyện kể đơn giản thường gặp. Phải chăng tác giả Nguyễn Giúp đã “ cố
ý”, “ giỏi”, tinh tế ở chỗ lựa chọn như vậy, một đề tài hết sức đơn
giản, giản dị để “ phô diễn” bút lực của mình ? Cái hay của bài thơ là
cách viết, cách diễn đạt, cách bố trí, sắp xếp các hình tượng mới lạ
để gây ấn tượng, lan toả trong lòng bạn đọc ?
Xong mùa cha đưa con lên phố
Thênh thang với mùa thi Trường con đầu xanh
Trường cha đầu bạc
Cái nhập đề của bài thơ cho ta cảm nhận được sự chân thành, nét nhẹ
nhàng, lung linh tâm hồn của nhà thơ, đồng thời cũng đã dấy lên một
cách suy nghĩ mới lạ, cách lập tứ mới. Hình ảnh “ trường con đầu xanh/
trường cha đầu bạc” chân thực nhưng cũng lấm láp bụi đời trường đời.
Những đường viền không giới hạn
Mọc ra cánh đồng bằng sự cắt tỉa hút mắt
Xoè bàn tay đủ năm đủ mười mà khô queo khô quắt
Không quen ngón chân bị nhốt
Cha rất đau với con đường này
Nội dung khổ thơ đã bung rộng ra, cửa thơ đã mở, mông lung hiện đại.
Dường như tác giả cũng không làm chủ được ngòi bút tả thực về hình
ảnh, cảnh tượng mùa thi, mà đã chuyển sang độc thoại nội tâm lúc nào
không hay biết. Bởi chăng trước bao nhiêu ồn ào náo nhiệt của thực
tại, của đời sống làm choáng ngợp tâm hồn mẫn cảm của một “ lão nông
dân”, tâm hồn nhà thơ như “ tím tái”, muốn “ rúc” vào cái vỏ bọc của “
nội tâm”, chiêm nghiệm lại các giá trị, để chào đón hết sức khó khăn,
nghiệt ngã những giá trị mới.
Cha dắt con đi đường đời
Con dắt cha đi đường phố
Buộc chặt rồi nhưng vẫn cứ sợ gian manh
Bước nguệch ngoạc vẽ chân dung đôi bóng
Một già một trẻ một nơi sinh
Những câu thơ giản dị truyền thống mà âm vang. Câu thơ “ một già một
trẻ một nơi sinh” mang âm hưỏng của Đường thi, mênh mang trầm tư về sự
sinh ra, sự già đi, sự chết và sự nối tiếp. Ở đấy có “ chất triết lý”
ý vị, sâu sắc, là một vòng tròn khép kín, bóng dáng “ thuyết luân hồi
Phật giáo”.
Sự cần mẫn nắng mưa có làm nên quê xứ
Mà sao cha lại thấy nhớ nhà
Thèm cái rựa chặt đứt sợi dây
Thèm cái bừa thu gom ngọn cỏ
Thích cởi trần và đốt lửa
Bát nước chè xanh một hơi thuốc
Có cảm giác riêng tư, “ kịch thơ” đã lên đỉnh điểm của những mâu
thuẫn, câu thơ gào thét về nhân bản và tự do, về đám đông và nỗi cô
đơn. các động từ “ chặt đứt, thu gom”, các hình ảnh cởi trần đốt lửa,
bát nước chè xanh một hơi thuốc” thật dứt khoát, mạnh mẽ, ấn tượng,
gợi một đời sống, một phong cách sống phóng khoáng, tự do, một lối
sống dân dã, mộc mạc nhưng mãnh liệt tình đời, tình người, tình quê.
Cái sống động của bài thơ là cái sống động của cuộc đời. Cái sống động
của cuộc đời là tự do tự tại, là sống hết cái trù phú trù mật của “
trời” cho, là “ đổ đốn điêu ngoa” cái sợ hãi, cái phù du, cái thấp
hèn.
Cha thèm một đời cha sống nữa cho con
Khăn gói ngày đi mẹ gởi theo dăm đồng
Tiền này bày cuộc vui
Tiền này bày xe ngựa
Ôi mùa thi rợp những cánh chuồn
Vui lắm những thanh âm trải dài màu mùi phố xá
Một lần đi hai giấc mơ
Khổ thơ (và cũng như bài thơ) đan xen bút pháp giản dị truyền thống và
mông lung hiện đại. Hình ảnh chận thực, tả thực, nhưng gợi ý mỉa mai,
nhọc nhằng, lo toan. Thơ không phải kể một câu chuyện đi thi. Thơ là
cảm xúc của tâm hồn ngân rung trước hiện thực xô bồ của đời sống, là
giấc mơ của con sông rác rưởi, là tiếng thảng thốt của nội tâm trước
đời sống đã khúc xạ qua lăng kính của thi nhân.
Cho con một đời ngập tràn huyên náo
Cha quay lại ruộng vườn tĩnh lặng
Chỉ tiếng ve mới giục được lòng
Quen với thung sâu ngại gì cày cuốc
Chỉ lần này ngực cha trống đánh sau trống trường điểm thi
Này con đừng sợ
Ở đây không kẻ gian
Ở đây họ đang tìm người giỏi
Ở đây là mai sau
Ở đây con được quyền kiêu hãnh
Ở đây có cha đứng đợi
Đọc đến đây, tôi có cảm nhận, thơ đã làm đầy đủ, quá sức đầy đủ chức
năng thiêng liêng của nó, là cứu giúp, là chiếc phao để nâng đỡ con
người vượt qua nỗi sợ hãi và cô đơn. Đọan thơ này của Nguyễn Giúp tột
mực dịu dàng, nhỏ nhẹ, tột mực nhân ái thương yêu. Và dường như nó
cũng khai thị một bí mật tình yêu cuộc sống nào đó thật giản dị, thật
bình lặng bình an.
Thiển nghĩ, những điều tôi vừa viết ra trên đây không là gì cả, như
vừa vẽ ra vài cánh hoa của một đoá hoa, của bài thơ “ đi thi cùng con”
của Nguyễn Giúp. Bởi những điều dễ hiểu của thơ ca truyền thống và
những điều khó hiểu của thơ ca hiện đại, đôi khi nói ra bằng lời thì
không phải là “ đạo thơ” nữa, nói về hương thơm không bao giờ là “
hương thơm” của đoá hoa. Rất hy vọng bạn đọc sẽ tiếp cận bài thơ với
những ý tưởng mới lạ hơn.
ĐI THI CÙNG CON
Nguyễn Giúp
Xong mùa cha đưa con lên phố
Thênh thang với mùa thi Trường con đầu xanh
Trường cha đầu bạcNhững đường viền không giới hạn
Mọc ra cánh đồng bằng sự cắt tỉa hút mắt
Xoè bàn tay đủ năm đủ mười mà khô queo khô quắt
Không quen ngón chân bị nhốt
Cha rất đau với con đường này
Cha dắt con đi đường đời
Con dắt cha đi đường phố
Buộc chặt rồi nhưng vẫn cứ sợ gian manh
Bước nguệch ngoạc vẽ chân dung đôi bóng
Một già một trẻ một nơi sinh
Sự cần mẫn nắng mưa có làm nên quê xứ
Mà sao cha lại thấy nhớ nhà
Thèm cái rựa chặt đứt sợi dây
Thèm cái bừa thu gom ngọn cỏ
Thích cởi trần và đốt lửa
Bát nước chè xanh một hơi thuốc
Cha thèm một đời cha sống nữa cho con
Khăn gói ngày đi mẹ gởi theo dăm đồng
Tiền này bày cuộc vui
Tiền này bày xe ngựa
Ôi mùa thi rợp những cánh chuồn
Vui lắm những thanh âm trải dài màu mùi phố xá
Một lần đi hai giấc mơ
Cho con một đời ngập tràn huyên náo
Cha quay lại ruộng vườn tĩnh lặng
Chỉ tiếng ve mới giục được lòng
Quen với thung sâu ngại gì cày cuốc
Chỉ lần này ngực cha trống đánh sau trống trường điểm thi
Này con đừng sợ
Ở đây không kẻ gian
Ở đây họ đang tìm người giỏi
Ở đây là mai sau
Ở đây con được quyền kiêu hãnh
Ở đây có cha đứng đợi
Và nơi cổng làng
Hình như có cả mẹ con !
NHỮNG CƠN MƯA
nghaitrieudl | 14 July, 2011 09:51
NHỮNG CƠN MƯA
Nguyễn Hải Triều
Chiếc thuyền giấy
chở ký ức tuổi thơ
cuối trời ráng đỏ
cánh diều níu bước chân trên cỏ
dòng sông ôm những cơn mưa
Mẹ đi về sáng trưa.Lưng mẹ
cầu vồng bắc qua cồn bãi
con cò cô độc
bơi vào đám mây sót lại buổi hoàng hôn
Lời ru chảy những cơn mưa...
Đồng đội đi trong mưa
dấu mắc võng
rừng già ngày đánh giặc
Viết câu thơ nửa chừng
bạn về đất
trang giấy rưng rưng đáy ba lô
Bao lần mưa chiều mưa sớm
đi qua ký ức cuộc đời
cô hàng xóm
bữa bỏ làng xa xứ
trong lòng có mưa mù khơi.
Và rồi năm tháng đi qua
mưa rơi
mưa rơi...
N.H.T.
LOÒNG BOONG
nghaitrieudl | 07 July, 2011 08:46
Loòng boong
“lụt nguồn trôi trái loòng boòng”
( ca dao).
Khúc dạo đầu có tiếng vó ngựa
Gươm cùn dáo gãy
Người đi nghiêng ngửa trăng vàng
Sông chảy về phía cổ tích loòng boong
Khúc dạo đầu rưng rưng ngọn gió
Rừng thiêng run bước người xưa
Đêm mài mòn giá buốt
Dấu móng tay bấm vào lòng ruột
Trăm năm còn huyền thoại một quân vương
* *
*
Nắng vàng ươm
Ngan ngát ngõ rừng
Đất mời em nguyên sơ cây cỏ
Mùa trái Đồng Chàm, Khe Dung đầy gió
Câu hò theo sông nước chở trăng về..
Tay ấm, môi cười thơm thảo đất quê
Khúc tình ca hồi lặng dấu
Ngọc ngà có em, mọng hương là trái
Cổ tích bây giờ đâu chỉ ngọt loòng boong..
N.H.T
BÀI VIẾT CỦA HUỲNH MINH TÂM
nghaitrieudl | 21 June, 2011 07:22
Bài viết của Huỳnh Minh Tâm
MÀU RÊU LỤC BÁT- THÂN PHẬN VÀ TÌNH YÊU
(Nhân đọc tập thơ Màu rêu lục bát của nguyễn Tấn Sĩ, NXB Đà Nẵng 2011)
Màu rêu lục bát phải chăng là giai điệu rêu phong cổ kính của tâm hồn,
và tâm hồn hướng về cái đẹp cũ kỹ mê ly, về những con đường cũ xưa,
những con đường tình nhân đa mang dần phôi pha theo thời gian nghiệt
ngã ? Thì tôi suy tưởng mông lung như vậy, bởi tôi đọc những câu thơ
mà Nguyễn Tấn Sĩ đã dẫn dụ bạn đọc, như : “ đã xanh rêu những phố
phường/ nghe mùa hạ chết vô thường hơi thu/ là em làm cuộc sa mù/ anh
ngồi nhặt xác phù du dỡ buồn/ chi còn lại những hồi chuông/ ám quanh
câu chú trần truồng thành thơ/màu rêu lục bát nguyên sơ/ mỗi đêm
nguyệt rụng là phờ phạc thu” (Màu rêu lục bát). “màu rêu lục bát phù
vân/ dắt thơ qua cõi dương trần để rơi” (Ai đưa lục bát).
Không chỉ có mấy câu thơ ấy đâu. Đọc Màu rêu lục bát, dường như bàng
bạc, miên man ngôn ngữ thơ của Nguyễn Tấn Sĩ là nỗi trằn trọc, trăn
trở, tiếc thương, ngậm ngùi về thân phận và tình yêu. Như một sự gặp
gỡ bất ngờ chủ đề xuyên suốt các nhạc phẩm của nhạc sĩ thiên tài bất
định Trịnh Công Sơn, nhưng ngôn ngữ thơ ca thường u trầm hơn, kín đáo
hơn, không hoan hỉ, minh bạch như ngôn ngữ âm nhạc. “ yêu người như
thể hạt sương/ tay che mắt nhớ mười phương tình mù/ yêu người như thể
thiên thu/ trong tim gom hết ngục tù thế nhân/ yêu người tình ngỡ như
gần/ mà tay khêu ngọn lửa tàn đợi chi/ yêu người như dại như si/ trong
tim vừa có chút gì đớn đau” (Như thể thiên thu)
Từ tập thơ Lời hát khẽ (2003), cho đến tập thơ mới này, càng khẳng
định, tác giả là nhà thơ già dặn, tay bút sắc sảo của vùng đất Quảng
Nam. Cái tính hóm hỉnh, bông phèn đớn đau của thơ anh ngày càng đậm
đặc. Có gì đó u ẩn, khúc mắc, cô đơn thân phận sau những cười đùa hớn
hở, một gương mặt “ tật nguyền” bên trong lớp da. “ai đưa câu bát
sang sông/ để cho câu lục khóc ròng ngày xuân/ nhớ ở xa đau ở gần/mới
giêng hai đã như tàn cuộc chơi/ nhỡ tay cuộn chỉ rối bời/ một người
ngồi gỡ một đời không ra/ ai đưa câu hát đi xa/ vầng trăng thưở ấy hết
già rồi non/ mà người nào mãi còn son/ câu thơ như đã ru mòn lời ru”
(Ai đưa lục bát...)
Với những đề từ trong tập màu rêu lục bát như : ngẫu hứng tò he, ngựa
ô, rơi và tìm, nhật nguyệt trên vai, Khi bầy phượng vĩ đã xa, biết là
nơi đâu..., bạn đọc cũng phần nào nhận diện các cung bậc âm thanh day
dứt của nhà thơ. Thân phận của nhà thơ gắn bó mật thiết với tình yêu
và thời gian, hoặc có thể nói rằng, tình yêu, thời gian và thân phận
đã hòa trộn máu thịt trong tâm hồn thi nhân. “vẫn còn một nhánh sông
quê/ vẫn còn một chỗ đi về lênh đênh/ còn bao kẻ nhớ người quên/còn
trên mặt nước sóng duềnh gọi mưa/ mênh mông đồng trống gió lùa/ tháng
năm thơ ấu như vừa đi qua/ nghe sông ru đủ bốn mùa/ ru tôi không ngủ
ngày chưa muốn chiều” (Lắng nghe sông gọi).
Riêng tình yêu trong thơ Nguyễn Tấn Sĩ cũng có nhiều cung bậc, nhiều
sắc thái. Tình yêu trai gái đan xen bao hình ảnh quê hương, kỷ niệm và
tuổi thơ. Tình yêu bị thời gian đánh cắp, bao vui buồn hân hoan, bao
giọt lệ trong trẻo. “Đừng rung lục lạc đồng đen/người còn ở lại thân
quen chốn này/đừng men rượu ủ cơn say/và đừng bảo trái tim này đang
yêu tàn đông ngọn gió quàng xiêu/ mùa xuân phía trước có nhiều nỗi
đau/ mà chi một mối tình đầu/ai nuối giữ mối tình sau mịt mờ” (Đừng
rung lục lạc).
Tựu trung, màu rêu lục bát của Nguyễn Tấn Sĩ đã góp một chất giọng lục
bát hóm hỉnh, tinh tế rất riêng của anh cho nền lục bát dân tộc; và
với chủ đề xuyên suốt thân phận và tình yêu, tập thơ đã ám ảnh bạn đọc
về cảm giác cô đơn, mong manh, bất định. Nếu tiếc điều gì ấy ở tập
thơ, có lẽ là thơ anh quá chỉn chu về vần điệu, cách diễn đạt mênh
mang quá, làm bài thơ không gọn, sắc, ít từ mới, giai điệu mới, và
nhất là hơi thở bài thơ chưa “ hiện đại”. Nhưng thành công của tập thơ
thì lớn hơn rất nhiều điều vụn vặt trên. Hy vọng bạn đọc sẽ tri âm với
những câu thơ hay của anh. “con đường cát lấm bụi quê/ dẫn ta về cõi
không về nữa đâu/ hoa thầu đâu cuộc bể dâu/tím mơ hồ tím như màu thời
gian/ sông bận bịu nước mênh mang/ mới xuân sang đã xuân sang còn gì/
con đường dẫn độ người đi/ tình non chưa nói năng chi đã già” (cát
bụi con đường).
THƠ LÊ PHƯỚC TRỊNH
nghaitrieudl | 08 June, 2011 08:55
Gửi quê
LÊ PHƯỚC TRỊNH
gặp người quê, nói giọng quê
bên ni bên nớ bên tê
chòng chành
nắng vàng, trời vẫn đang xanh
đã nghe tàn lá rụng quanh lặng buồn.
bao năm xuôi biển, ngược nguồn
ước mong làm một cánh chuồn
ao quê
sông dài chưa hết cơn mê
giật mình tỉnh mộng, nẻo về còn xa...
cũng từ rơm rạ đi ra
khói đốt đồng cứ cay nhòa
mắt ai
mỏi chân, chưa hết dặm dài
bát chè xanh vẫn chưa phai nỗi lòng.
bây chừ cách núi, ngăn sông
chiều nay nhớ sợi khói đồng
mà đau
nỗi niềm chi khóm cỏ lau
vẫy gọi nhau đến bạc màu thời gian...
L.P.T
TÌM NGỌN GIÓ XƯA
nghaitrieudl | 31 May, 2011 14:47
TÌM NGỌN GIÓ XƯA
Nguyễn Hải Triều
(Gởi Th.)
Tôi về tìm ngọn gió xưa
Giấc mơ trắng thuở ai chưa bế bồng
Sợi buồn giăng giữa minh mông
Cũng may còn có dòng sông nhớ người...
Chạnh lòng tôi với tôi thôi
Vầng trăng khuyết đậu bên trời lẻ loi
Xòe tay bắt nhớ không mùa
Mai sương mỏng mảnh mắt xưa ngỡ ngàng
Bỗng nhiên thương nhánh cải vàng
Câu thơ chín đợi mùa sang phía mùa...
Sông Tiên đêm chỉ một tôi
Khúc cô liêu
một góc trời...
chờ em...
Tiên Kỳ tháng 5.2011


Trackbacks (0) | 
